Hiển thị các bài đăng có nhãn Phong tục Việt Nam. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phong tục Việt Nam. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 2 tháng 1, 2017

Cách tính ngày hoàng đạo, hắc đạo

By Xuy Tuyet  |  Phong tục Việt Nam
"Hoàng Đạo" trong thiên văn cổ đại (còn có tên là Thiên Hoàng đạo) tức là quỹ đạo chuyển động của mặt trời trên bầu trời mà người xưa quan sát được.
Qua quỹ đạo đó thấy đường đi của mặt trời trong một năm có những khoảng cách khác nhau, lấy quỹ đạo đó phân định mùa hè và khí tiết. Thuyết nhị thập bát tú cũng có nguồn xuất phát từ Hoàng đạo.
Các sao trên cung Hoàng đạo vốn không có hàm ý sao tốt hay xấu. Nhưng theo tâm lý của người xưa: Mặt trời tức là ông Trời. Mặt trời là vật hữu hình, ông Trời là vô hình. Mọi người, mọi vật, mọi việc, mọi điều họa phúc trên đời này đều do ông Trời đầy đủ quyền uy quyết định. Ngày ngày, tháng tháng, năm năm, trên đường đi của ông Trời qua từng chặng đường tất phải có các vị thần hộ vệ, mỗi vị thần là một ngôi sao, các thần có thần thiện thần ác, mỗi thần chuyên lo một việc do ông Trời giao phó. Vì vậy trong 12 giờ có 12 vị Thần sát, các vị Thần sát cũng luân phiên trực nhật mỗi vị một ngày trong tháng trong năm. Đường thần thiện đi gọi là Hoàng đạo, đường thần ác đi gọi là Hắc đạo.



Theo bảng trên:

- Ngày hoàng đạo của tháng giêng và tháng bảy âm lịch là những ngày: Tý, Sửu, Tị, Mùi.
- Ngày hắc đạo của tháng giêng và tháng bảy âm lịch là những ngày: Ngọ, Mão, Hợi, Dậu.

Facebook: Luận Giải Tử Vi
Email: tuvixuytuyet@gmail.com

Thứ Ba, 24 tháng 2, 2015

Các việc kiêng kỵ

By Xuy Tuyet  |  Phong tục Việt Nam

Ngoài sự kiêng ngày xấu, lại còn nhiều sự kiêng nữa, nói đại khái ít điều sau nầy
Đầu năm mới và sáng mồng một đầu tháng kiêng đòi nợ, sợ rông cả năm hoặc cả tháng.
Đầu năm chưa làm lễ động thổ, kiêng đào đất hoặc giã chày cối và quét nhà, sợ cả năm làm ăn không lợi.
Sáng sớm kiêng văng tục, sợ rông cả ngày.
Ba tháng hè kiêng cưới xin, sợ không hay.
Năm cùng tháng tận kiêng làm cửa làm nhà và các việc vui mừng, sợ không hay.
Việc vui mừng, việc tế tự và khi vào trước mặt quan trưởng kiêng mặc đồ trắng, e thất kính.
Nhà có tang kiêng dùng đồ đỏ, e trái lễ.
Hiếu chủ kiêng ăn trầu, kiêng việc vui mừng, kiêng mặc đồ tơ lụa, e thất hiếu.
Đầu năm mới kiêng mặc đồ chàm xám, e sái.
Mặc đồ sô gai, kiêng không được vào nhà ai, e sái.

Đàn bà chửa con so kiêng hái quả trên cây, e quả sinh mất.
Đàn bà chửa kiêng gần tử thi, và kiêng đưa ma tiểu thương, e độc.
Mẹ chồng chửa kiêng cưới con dâu, e độc.
Vợ chửa, chồng kiêng sát sinh và kiêng đóng cọc, e độc.
Người mới đẻ, kiêng không cho người ngoài giắt tiền vào phòng, sợ trẻ giật mình.
Người mới đẻ, người ngoài kiêng vào nhà, sợ cung long thì làm ăn lẩn quẩn, không hay.
Đàn bà lạ chửa, kiêng không cho đẻ trong nhà, e độc.
Người sống kiêng mặc áo thừa và nằm giường thừa của người chết, e độc.
Người làng khác chết kiêng không cho đưa ma qua làng, sợ độc.
Cha mẹ kiêng đưa con gái về nhà chồng, e người ta cười.
Vợ chồng kiêng rửa chung một khăn mặt, e độc.
Con cháu kiêng tên ông bà cha mẹ, e thất kính.
Người trẻ tuổi kiêng tôi vôi, e chóng bạc đầu.

Trẻ thơ, kiêng khen tốt đẹp béo đẫy, e quở quang.
Trẻ con kiêng đội nón trong nhà, e lùn.
Trẻ đi học, kiêng ăn cơm cháy, sợ tối dạ và kiêng ăn chân gà, sợ viết run tay.
Học trò đi thi kiêng ăn tôm, vì con tôm như hình chữ liệt (chữ phê hỏng) của quan trường phê, sợ sái.
Làm văn kiêng nói con khỉ, con tiều, con hùm, con beo, sợ ế hàng.
Buôn bán kiêng mặc cả một lời, sợ không được may mắn.
Kẻ bán hàng quẩy gánh (gánh) kiêng người ta bước qua đòn gánh, sợ gánh không cân.
Làm nhà kiêng làm chẵn gian, phải ba hoặc năm hoặc bảy mới được, sợ độc.
Làm cửa ngõ kiêng đối ngõ với nhà khác, sợ độc.
Trước cửa kiêng người làm nhà chắn hướng, sợ bất lợi.
Gian giữa kiêng đầu nóc nhà ai xuyên vào, sợ độc.
Chữa nhà kiêng thu hẹp hơn trước, sợ sái.
Giường chiếu trong nhà kiêng dựng ngược, sợ sái.
Ở nhà kiêng ngồi giữa bậc cửa, e thất lễ.

Ra ngõ kiêng gặp gái, e bất lợi.
Uống rượu kiêng úp chén và dốc ngược chai, e say rượu.
Đánh bạc kiêng ăn đầu vịt và kiêng người vịn vai, ngồi chống lẹ, sợ hãm tài.
Đánh bài kiêng chia bài trước khi chưa đủ tay, sợ không thành.
Đi hát, cầm chầu kiêng đánh trở mặt trống và kiêng chạm vào chiếu rượu khi mới trải, sợ sinh sự cãi nhau.
Con hùm kiêng gọi là ông ba mươi, con rắn kiêng gọi là ông lốt, con voi kiêng gọi là ông vâm.
Xem các sự kiêng kỵ của ta, thực là lắm sự nực cười, không có nghĩa lý gì, mà tục cứ thấy kiêng thì kiêng chớ không ai hiểu bởi cớ làm sao cả.
Lạ quá! Những sự nên kiêng thế nào cho khỏi ngu dốt, kiêng thế nào cho khỏi yếu đau, kiêng thế nào cho khỏi nghèo hèn, kiêng thế nào cho khỏi nhục nhân cách, thì không mấy người tìm cách mà kiêng, đi kiêng những điều vụn vặt, những sự vu vơ, nào kiêng ngày kiêng tháng, nào kiêng đứng kiêng ngồi, nào kiêng ăn kiêng mặc, nào kiêng cười kiêng nói, kiêng cả đến ra ngõ gặp gái, kiêng cả đến sáng sớm đòi nợ, sao mà kiêng lắm điều lạ lùng làm vậy?
Đến như thi cử kiêng tôm, buôn bán kiêng khỉ, mới lại ngộ nữa, không biết ăn tôm thì bóng vía con tôm nó nhảy vào quyển thi, nói khỉ thì hồn vong con khỉ nó ám vào cửa hàng hay sao? Hay là trông thấy hình nó mà sợ, nghe đến tiếng nó mà ghê, rồi không làm được văn, không bán được hàng hay sao? Chắc là không phải thế, thế thì vì cớ gì mà kiêng?
Thôi nói qua mấy điều, đủ biết là tính mình tin nhảm, thực là lý tưởng trẻ con.

Trích "Phong Tục Việt Nam" - Phan Kế Bính.

Cô hồn

By Xuy Tuyet  |  Phong tục Việt Nam

Cô hồn là người lấy nghề gọi hồn cho người ta mà kiếm ăn. Cô hồn phụng thờ ông Chiều bà Dí, không rõ điển tích thần ấy thế nào, nhưng chắc là thần hay đi chiêu âm hồn.
Nhà nào có người mất, thường mời cô hồn về nhà gọi hồn. Trước hết phải đi nhờ một người bà con lành vía đặt quẻ, đưa ra một cơi trầu và một món tiền trăm. Cô hồn cầm cơi trầu khấn khứa ông Chiều bà Dí để nhờ thần xuống âm phủ tìm âm hồn người mất về. Một lát âm hồn về nhập vào cô hồn kể lể khóc lóc, nói những tình cảnh biệt ly. Người nhà xúm xít vào hỏi, hỏi đâu nói đấy, nào ai là cha mẹ, nào ai là vợ là chồng, ai là anh em chú bác, con cái cháu chắt; lúc mất đem những gì, bởi sao mà mất, mất về ngày tháng nào, bây giờ ở dưới âm phủ làm gì, hễ nói câu gì trúng thì người nhà thưởng tiền cho cô hồn, mà nói sai thì trút tiền lại.
Khi hồn đang nói mà có người dữ vía bước vào, thì hồn đi ngay không nói được nữa. Hoặc khi hồn chưa về mà người nhà lấy nồi đất úp vào đầu ông táo hoặc bỏ muối vào bếp thì hồn cũng không lên. Tục cho là làm như vậy thì ông Chiều bà Dí không tra hỏi được táo quân mà đi tìm hồn về, cho nên không nói được.
Cô hồn nào nói hay, mỗi đám cũng kiếm được một vài đồng bạc; mà tiếng hay đồn đi, hết nhà này đón rước lại đến nhà khác, kiếm tiền cũng tốt lắm.
Có người thử thách, gọi hồn người sống cũng lên, cũng nói được việc nhà cửa việc nhà, cho nên tục lại cho là ông Chiều bà Dí tra hỏi Táo quân mà nói.
Đàn bà nhiều người tin cô hồn lắm. Hễ nhà bất hạnh có người mất, dẫu nghèo kiết đến đâu, cũng cố mời được cô hồn về gọi hồn một hôm mới bằng lòng. Có nhà gọi đi gọi lại hai, ba lần.
Tục gọi hồn này cũng lạ. Đã cho là gọi được hồn người dưới âm, sao lại gọi được vía sống? Thế ra vía người sống cũng bị ông Chiều bà Dí lôi đi, phải lìa xác thịt mà nhập vào cô hồn ư? Bảo rằng ông Chiếu bà Dí tra hỏi Táo quân mà nói, vậy sao hơi động hồn lên thì khóc than kể lể, thế ra thần cũng biết khóc giả dối để lừa người ư? Xét cho kỹ chẳng qua cũng là một thuật giả trá kiếm tiền mà thôi.

Thử có ý mà nghe những lúc hồn lên, câu nào cũng là nói dựa nói dẫm, mà cứ lựa theo giọng người nhà mà xoay đầu lưỡi: con hồn lẻ bảy lẻ ba, còn hồn chẵn hai chẵn bốn. Ừ! chẳng chẵn thì lẻ chớ có sai thế nào được. Lạ gì đàn bà nhẹ miệng, hễ thấy nói hơi sai thì đã người nọ ấm người kia ứ, thì họ lại xoay ra giọng khác ngay, mà nghe thấy nói hơi trúng một chút thì vâng chịu ngay, họ thấy chịu thì họ nói đi lại mãi; ấy thế là cho làm hay lắm.
Có ai muốn thử hỏi một đôi câu bí ẩn trong nhà thì cô hồn chịu không nói được, lại cho là người dữ vía mà hồn phải thăng, chớ nào có chịu là nhắng mường đâu. Vậy mà động nói có cô hồn hay, đã tranh nhau mà mời, thực là lạ cho tính người đàn bà nước ta quá.

Trích "Phong Tục Việt Nam" - Phan Kế Bính.

Đồng cốt

By Xuy Tuyet  |  Phong tục Việt Nam

Đồng cốt là những người thờ về chư vị, như thờ bà Liễu-Hạnh công chúa, Thượng-Ngàn công chúa, Cửu-Thiên huyền nữ, v.v... thì gọi là đồng Đức Mẹ; thờ về các vị Hoàng Tử thì gọi là Đức Ông; thờ về các cậu thì gọi là đồng Cậu Quận; thờ các cô thì gọi là đồng Cô.
Đàn bà hay đau yếu, hoặc đôi khi mặt đỏ rần rần, hoặc hay nằm mơ thấy bay và thấy lội dưới nước thì cho là có số phải thờ. Người có số phải thờ, phải đem vàng hương đến kêu tại cửa tĩnh nào, đội bát phù hương, xin làm con công đệ tử. Đã thờ rồi, thì cứ mồng năm, ngày tết phải đến lễ. Người nào chư-vị bắt đồng thì phải ngồi đồng hầu bóng thánh; ai còn trẻ tuổi thì xin khất lại mấy năm cũng được.
Thánh đã bắt đồng thì phải lập cửa tĩnh riêng tại gia mà thờ, hoặc phải đến chầu chực tại nơi đền miếu nào.
Bàn thờ bài trí tượng Chư-vị, ngựa vòng, hài hộp, vàng xanh vàng đỏ, nón dứa nón nghệ bằng giấy treo lủng lẳng cả trước cửa bàn. Người đồng cốt lại may sắm khăn áo các mầu, cái xanh, cái đỏ, cái vàng, cái trắng gọi là khăn áo ngự, để khi ngồi hầu bóng thì mặc.
Nhà đồng bóng mua những thứ hoa quả, bỏng kẹo, thường ngày đêm hương khói phụng thờ.
Đôi khi rằm, mồng một, ngày tuần ngày tiết, hoặc khi có người đau yếu kêu cầu thì bọn cung văn đến dàn trống hầu văn để đồng vào hầu bóng. Đồng mặc áo xanh áo đỏ, đội khăn các mầu, múa mênh nhảy nhót ở trước cửa tĩnh, lượn ra lượn vào, ưỡn à ưỡn ẹo. Bọn cung văn đàn ngọt hát hay thì đồng ban thưởng cho tiền cho lộc. Nịnh hót khéo nữa thì có khi đồng cởi cả ruột ban cho. Đồng phán ra những tiếng ỏn a ỏn ẻn mà truyền bảo người có bệnh, có khi đồng làm ra mặt hờn giận nhà chủ không thành thì các người hầu bóng bên cạnh lại kêu kêu khấn khấn, van van lạy lạy, tâu đối cho được lòng đồng thì đồng lại hả hê truyền phán. Nhất là những khi bóng cậu bóng cô lên thì khó chiều nữa. Cậu cô phán ra những tiếng bập bẹ ngọng ngựu, như tiếng dị mũi, mà hay hờn giận lắm.
Có khi đồng phán cho lấy rượu hỏa thang để đồng rửa mặt rửa tay. Đồng phán cho nhà chủ thế nào thì phải thuận lời ấy, hoặc ban cho tàn nhang nước lã để về mà uống, hoặc ban cho một chén nước quết trầu để về mà xoa chỗ đau. Nhà chủ kiều cúng một hôm rồi thì mỗi tối phải trầu rượu hương hoa đến lễ, xin dấu uống hoặc xin bùa đeo. Khi nào bệnh đã bớt thì phải lễ tạ, tùy đồng phán cho biện đồ lễ gì thì phải tuân lời mà làm, hoặc làm lễ bằng gà xôi oản quả, hoặc bằng tiền bạc, có đám cúng bái tốn đến trăm bạc.
Cứ mỗi năm ngày mồng sáu, bảy tháng hai là ngày hội đền Lộ (đền thờ bà Thiên-Hậu), ngày mồng tám tháng ba là ngày hội phủ Dầy (đền thờ bà Chúa Liễu), đều gọi là ngày hội Bà cốt thì các đồng cốt trẩy về đền lễ bái đông lắm. Các đồng đến đó tranh nhau múa mênh coi cũng vui mắt. Đồng bóng thi đồng quan với nhau, hễ xin âm dương mà thánh cho ai đỗ thì ngồi ấy gọi là đồng quan, có danh giá hơn các đồng khác.
Tục đồng cốt mới lại nhảm nữa. Có người nói đồng cốt có cách múa mênh ỏng ẹo cũng như một cách nhảy đầm của đàn bà bên Âu-châu. Cách nhảy đầm thì là một dịp cho đàn bà được phô phang cái dáng yêu kiều, cái điệu ẻo ớt. Tục ta không có cách ấy, cho nên phải mượn đến cách đồng bóng múa mênh, ấy là cái tính riêng của đàn bà, muốn phô trương cái đẹp ở trước mắt thiên hạ. Còn sự quỉ thần thì do ở lòng mê tín mà ra, không lạ gì cả.
Lời ấy có lẽ phải. Chớ nếu bảo thánh bắt đồng thì rất vô lý. Vì các bà ấy cũng là người danh tiếng lúc sanh tiền, có lẽ nào phải nương bóng vào xác tanh hôi phàm trần, để làm bộ ở trước mặt đám trai trẻ?
Còn như cái lòng mê tín của người có tật bệnh thì lại là quá. Họ thật là thành tâm, không có chút nào dám ngờ vực phép thánh. Truyền cho uống tàn hương nước lã thì uống tàn hương nước lã, truyền cho xoa quết trầu thì xoa quết trầu. Dẫu bẩn thỉu ghê gớm thế nào cũng nhắm mắt mà theo. Mà động chồng con nói ra nói vào câu gì thì họ làm cho phải tịt. Tội quá! cúng mãi không khỏi thì họ cho là người nhà không thành, chớ không khi nào chịu là phép thánh không thiêng; mà có lỡ chết đi nữa thì các mụ đồng lại được điều: thánh chữa được bệnh chớ không chữa được mệnh. Vậy thế ra khỏi bệnh thì là thánh thiêng, không khỏi thì là tại người nhà không thành, mà chết thì là tại mệnh. Đằng nào thánh cũng hay, đồng cũng phải, thế thì còn ai nói cho được. Lại còn nhiều bệnh nữa, thánh nghe chừng không chữa nổi, phán về cho phục dược, uống thuốc mà khỏi ra thì nhờ ơn thánh chỉ bảo, không khỏi ra thì tại thầy thuốc vụng, thế có phải điều gì cũng vơ lấy phần phải cả không?
Khốn nạn thay cho các kẻ ngu xuẩn, chỉ tin những sự huyền hoặc, mà không biết trọng cái sự hiển nhiên. Những chốn quê thôn, đàn ông phần nhiều cũng như đàn bà. Đôi khi có người kiến thức, lấy điều khôn lẽ phải mà bảo thì lại cho là báng bổ chớ biết đâu rằng người báng bổ ấy mới thực là người biết trọng quỉ thần.
Than ôi, đạo phù thủy cùng là đạo đồng cốt còn thịnh hành ngày nào thì dân trí còn ngu xuẩn ngày ấy. Bao giờ trong nước tuyệt hẳn được cái mối ấy thì mới có cơ khôn ngoan cả được.

Trích "Phong Tục Việt Nam" - Phan Kế Bính

Các cách chiêm đoán

By Xuy Tuyet  |  Phong tục Việt Nam

Xứ ta nhiều cách chiêm đoán. Phàm việc tai tường họa phúc, từ việc quan hệ về quốc sự, cho đến việc quan hệ về tính mệnh, công danh, tài sản của riêng một người, đều có cách chiêm đoán cho biết trước. Ngoại giả cách bói toán đã nói trên kia lại còn nhiều cách nữa như sau này:

1.— Nhâm độn: Nhâm độn có nhiều cách, như độn bát môn, độn thị-tư, độn đại lục-nhâm, v.v... Song có cách giản dị hơn cả các phép là độn lục nhâm thời khóa.
Độn lục nhâm này, chia trong bàn tay trái làm sáu cung:
1) Đại an ở cung dần, thuộc kim;

2) Lưu-liên ở cung tỵ, thuộc thủy;
3) Tốc-hỉ ở cung ngọ, thuộc hỏa;
4) Xích-khẩu ở cung mùi, thuộc kim;
5) Tiểu-cát ở cung tý, thuộc mộc;
6) Không-vong ở cung sửu, thuộc thổ.
Phép này trước hết xem giờ gì, ngày tháng gì, rồi bắt đầu ở cung Đại-an khởi tháng giêng, tính theo sáu đốt trên này cho đến tháng xem quẻ, rồi lại tự cung ấy mà khởi ngày mồng một tính cho đến ngày xem quẻ; rồi lại tự cung ấy mà khởi giờ tý tính cho đến giờ xem quẻ. Giờ xem quẻ trúng vào cung nào thì cứ xem bài thơ đã giải sẵn ở cung ấy mà đoán việc mình, hoặc suy lẽ ngũ hành sinh khắc mà đoán.
Thí dụ: giờ thìn ngày mồng 5 tháng 3 xem quẻ thì kể tháng giêng từ cung Đại-an, tính theo cung ấy, tháng hai là cung Lưu-liên, tháng ba là cung Tốc-hỉ. Rồi lại tự cung Tốc hỉ khởi mồng một, thì mồng hai là cung Xích-khẩu, mồng ba là cung Tiểu-cát, tinh mãi đến mồng năm là cung Đại-an. Rồi lại tự cung Đại-an khởi giờ tý, tính theo giờ sửu là cung Tốc-hỉ, giờ dần là cung Xích khẩu, tính mãi đến giờ thìn thì là cung Tiểu cát. Bấy giờ cứ xem bài thơ trong cung Tiểu-cát mà đoán.
Mấy bài thơ đoán sẵn đại khái như sau này:
Đại-an nhiều việc hay, cầu tài tốt, tật bịnh khỏi, người đi xa chưa về. Lưu-liên việc gì cũng khó xong, mất của phải tìm phương nam mới thấy, lại phải phòng có việc miệng tiếng. Tốc-hỉ cũng tốt, cầu quan được, người đi xa có tin. Xích khẩu chủ việc miệng tiếng tật bịnh. Tiểu-cát, nhiều việc tốt, người đi xa sắp về tới nhà. Không vong thì nhiều việc xấu.

2.— Phụ tiên: Phụ tiên nhất là hay tìm những nơi chùa chiền thanh tĩnh. Các người có việc cầu khẩn, trước hết phải tắm rửa sạch sẽ, ăn chay một ngày, rồi mua vàng hương, cau trầu, hoa rượu bày trên một cái án, đốt đèn đốt hương, lễ bái khấn khứa rồi mới phụ.
Trước chỗ án thờ phải có một mâm gạo, một người ngồi đồng lấy khăn che kín mặt, tay cầm một cái bút bằng cành đào (cành đào phải lấy cành hướng đông và lấy về buổi sáng mặt trời mới mọc mới tốt), chống ngọn xuống mâm gạo.
Ở ngoài một người cầm hương thư phù vào mặt và hai tay người ngồi đồng, rồi có hai ba người nữa đọc bài văn sai, hoặc giở thơ cổ mà ngâm vịnh vang cả lên, một lát thấy đảo đồng thì là tiên đã sắp giáng. Các người tấu lạy kêu van một lúc, tiên mới gõ bút vào mâm gạo mà viết. Người ngồi hầu bút phải tinh mắt trông theo mà thảo ra một mảnh giấy. Tiên viết xong một bài thơ nào thì truyền cho ngâm lên để ngài nghe, các người ngâm lại bài đó, rồi muốn truyền phán gì cứ viết vào mâm gạo mà bảo.
Thơ tiên nhanh lắm, không kỳ nghĩ ngợi gì, động viết ra thành thơ. Hoặc khi làm ca làm phú, làm từ khúc, nhiều bài hay lắm. Trước hết tiên làm một bài thơ tứ hiệu, để ai nấy được biết ngài là vị nào. Rồi cứ lần lần cho mỗi một bài, ai muốn biết việc mình hay dở thế nào cứ bài thơ ấy mà đoán. Có khi tiên phán lấy rượu uống thì người hầu bóng phải rót rượu đốt hỏa thang lên, tiên cầm bút chấm vào thế là uống rượu. Có khi tiên hứng đánh cờ thì phán lấy bàn cờ ra đánh, người ngoài phải hầu cờ, tiên cầm bút chỉ vào con cờ mà đi từng nước. Có khi tiên xướng họa thơ chơi với người hầu bóng có giỏi thơ lắm mới dám xướng họa. Ai có tật bệnh gì muốn xin phương thuốc, hoặc ai muốn xin đất, hoặc muốn kêu riêng việc gì thì viết thơ mật phong mà kêu, tiên sẽ tùy thời mà phán báo cho, hoặc ngài kê cho đơn thuốc mà uống.
Học trò mỗi năm về khoa thi, thường rủ nhau năm, bảy người phụ tiên với nhau để hỏi việc khoa cử. Thơ tiên mới cho thì thực là viển vông, nhưng cũng lắm câu về sau mới nghiệm ra. Như có người « Thủ phan đan quế nhất chi cao » nghĩa là tay vin quế đỏ một cành cao, thì tưởng là đậu thủ khoa, không ngờ bay ngay kinh nghĩa là một kỳ đầu tiên. Lại có người được câu « Đáo lão công danh vĩnh bất thành », nghĩa là đến già công danh không bao giờ thành được, tưởng còn đỗ gì nữa, vậy mà đến khoa bính tuất thì đỗ cử nhân. Ngẫm đến câu thơ ấy thì ra chữ « vĩnh bất » tức là tiếng nói lái chữ « bính tuất ». Thơ đại để huyền ảo như vậy.

3.— Xin thẻ: Các đền chùa linh ứng, thường có một ống thẻ để thờ. Mỗi cái thẻ đề một số, mỗi số có sẵn một tờ giấy in một quẻ, đề là triệu gì, lại có bốn câu thơ tổng đoán việc cát hung. Rồi ở dưới phân ra từng việc, đại để như bổn mệnh, mưu vọng, cầu tài, hành nhân, thất vật quan tụng, lục giáp, v.v... mỗi việc lại có bốn câu thơ nữa. Dưới cùng có một vài câu chú giải. Thơ từ ấy lo những bài phụ đồng mà thần thánh giáng bút cho.
Đầu tháng giêng những thiện nam tín nữ, đi lễ bái các nơi chùa chiền, thường hay xin thẻ để nghiệm xem vận mệnh hay dở của mình. Hoặc khi người cầu công danh, người đi buôn bán làm ăn nơi xa, người tật bệnh, cũng có tục xin thẻ.
Xin thẻ, trước hết dùng vàng hương đồ lễ, lễ thần, lễ Phật, khấn khứa bày tỏ việc mình, rồi quì tại trước bàn thơ mà xóc ống thẻ. Xóc mãi cho đến khi có một cái thẻ ở trong ống vọt ra thì thôi, lấy cái thẻ ấy mà xem số thứ mấy, rồi ra xin người thủ từ một tờ giấy in quẻ theo số ấy, tạ lại người thủ từ dăm ba xu, một hào.
Người biết chữ đoán lấy, còn người không biết chữ hoặc đàn bà thì nhờ người đoán giùm. Về độ đầu năm, thường có những ông đồ già ngồi cửa chùa làm nghề đoán thẻ giúp cho người, kiếm mỗi quẻ dăm ba xu.
Cách đoán thẻ cũng như cách đoán thơ tiện, lắm câu viển vông mà về sau cũng có khi nghiệm.

4.— Xem chân giò: Người có tật bệnh làm lễ, hoặc người xuất hành đi đâu, hoặc làm lễ cầu khẩn việc gì, thường dùng gà giò (gà sống ba bốn tháng), rửa chân cho sạch, khấn khứa rồi mới cắt tiết gà làm thịt. Đôi giò gà thì chần qua nước sôi đem ra, chớ luộc chín quá thì nứt da, gọi là phá quản không xem được. Luộc gà chín đem lễ, và lễ cả đôi chân giò. Lễ xong thì xem.

Xem giò phải coi ngón chân nhỏ chỉ vào đâu, chỉ vào ngón trong, thuộc về việc trong nhà; chỉ vào ngón giữa, thuộc về chủ thần, chỉ vào ngón ngoài thuộc về người ngoài; chỉ vào khe các ngón thì gọi là chỉ không, không ứng nghiệm việc gì cả. Trong giữa bàn chân nó gọi là trung cung, hễ chỗ trung cung được đầy đặn thì cửa nhà phong vận, lõm xuống thì tất bị khổ sở.
Lại phải xem huyết điểm đỏ hồng hào là tốt, mà xám là xấu. Trong ba ngón tám đốt chung quanh chia làm tám cung: kiền, khảm, cấn, chấn, tốn, ly, khôn, đoài, theo phương vị trong dịch, mỗi cung chỉ riêng một việc, hễ huyết điểm đọng vào cung nào thì việc hay dở nghiệm về cung ấy.
Cách xem giò cũng nhiều cách lắm, phải xem đến sách giò mới tường. Ngoại giả lại còn phép xem đầu gà, đại để cũng xem huyết đỏ thì tốt, đen thì xấu, và xem huyết đọng ở tai hoặc mắt, rồi hợp với lẽ ngũ hành sinh vượng mà đoán. Mà thường thì cứ mỏ há mắt nhắm là tốt, mỏ ngậm mắt mở xấu.

5.— Cầu mộng: Người có việc muốn cầu thần thánh chỉ bảo, nhất là học trò đến khoa thi, thường đi cầu mộng. Cầu mộng phải ăn chay, tắm rửa sạch sẽ, đem vàng hương đến lễ đền chùa nào, khấn khứa rồi nằm ngủ tại đó. Hễ mơ thấy gì thì cứ đó mà suy đoán cát hung.
Mộng có cái rõ ràng, có cái huyền ảo, cao đoán cũng nhiều khi linh nghiệm. Thường khi không cần gì cũng có mộng, tục cho là quỉ thần báo sự cát hung cho mình.

Trong chiêm-mộng-tinh có đặt sẵn các bài giải mộng nói qua sau này:
Môn thiên văn
Mặt trời soi vào nhà, thăng quan.
Mặt trăng soi vào nhà, thăng quan.
Mặt trăng soi vào bụng, sinh quí tử.
Đi đường gặp mưa, có sự ăn uống.
Mưa to gió lớn, điều dở. Mây đỏ lành, mây đen dữ.
Môn địa-lý
Động đất, thiên quan.
Khuân đá vào nhà, điềm phú quí.
Mình ở trong rừng, đại cát.
Trông thấy núi cao, có việc hay.
Môn quỉ thần
Đánh nhau với quỉ thần, sống lâu.
Thần thánh đến nhà, có phúc lộc.
Bị quỉ thần đánh, bất tường.
Nói chuyện với quỉ thần, chủ phú quí.
Môn thân thể
Chải đầu, rửa mặt, hết sự lo lường.
Mình ra mồ hôi, điềm xấu.
Rụng răng, điềm không hay.
Rụng răng không có huyết, điềm phát tài.
Vợ chửa, vợ có tư tình.
Vợ chồng cãi nhau, chủ tật bệnh.
Dơ bẩn dây người, tốt.
Môn vui mừng
Khóc với người, có việc vui mừng.
Người chết mắng, đại cát.
Thấy con chết, phát tài.
Môn ẩu-đả
Đánh nhau với người, tốt.
Người trong nhà đánh nhau, chủ phân ly.
Giết người, chủ phú quí.
Môn tạp-mông
Uống rượu cao lâu, đại phú quí.
Qua sông, có việc ăn uống.
Cửa mở rộng, đại cát.
Nóc nhà có cỏ mọc, bất tường.
Thấy lửa cháy, phát tài.
Thấy rết cắn, sống lâu.
Rắn cắn, chủ được của.
Bò vàng vào nhà, phú-quí.
Cây cối tươi tốt, nhà thịnh vượng.
Nói đại khái mấy cách giải đoán như vậy, nhưng người cao đoán không cứ gì, tùy người, tùy mộng, tùy lúc, mỗi khi giải một khác. Song mộng chẳng qua là lòng tư tưởng kết lại vị tất đã có ứng nghiệm gì.

6.— Nghiệm lời đồng dao: Đồng dao là các câu ví von, trẻ con thường hát chơi, mà không rõ bởi đâu đặt ra. Sách Tàu nói rằng: lời đồng dao là bởi sao Huỳnh hoặc hiện xuống dạy trẻ hát, rồi trẻ quen mồm mà hát, cho nên nhiều câu kỳ thủy không có nghĩa lý gì mà về sau trúng vào thời sự. Ví như câu « Chu chi trành trành, cái đanh nảy lửa », tục cho nghiệm vào đèn điện, câu « Tam khoanh tứ đốm » tục cho nghiệm vào ông quan ba vạch; câu « Chỉ đâu mà buộc ngang trời, thuốc đâu mà chữa cho người lẳng lơ » tục cho nghiệm vào dây thép và nhà lục-xì; câu « Bắc cầu sông cái cho thầy mẹ sang » tục cho nghiệm vào cầu sông Nhị-Hà, v.v...
Vì có những câu ấy, tục cho là lời tiên tri, cho nên lại nhân đó mà tìm những câu chưa nghiệm. Như lời « hoa viên gỗ » lời « con ngựa chết chương ba vương thượng đế », v.v...
Người đoán nghĩa thế này, người cho nghĩa thế nọ, tổng chi là nghĩa hồ đồ mà thôi.
7.— Nghiệm lời sấm ký: Lời sấm ký là các câu ẩn ngữ của nhà thuật số tính số thái ất mà đặt ra. Tục cho phép ấy tính được việc 500 năm về trước và 500 năm về sau. Nước ta thủa xưa có câu sấm « Hòa đao mộc lạc, thập bát tử thành, đông a xuất nhật, đoái cung ẩn tình », v.v... đã nghiệm vào việc các đời Lê, Lý, Trần, Trịnh. Đời nhà Mạc có ông Nguyễn-bỉnh-Khiêm (cụ Trạng Trình) tinh về lối học lý số, có đặt ra nhiều sấm ký nói về thời sự, toàn là những lời hiểm hóc, không ai hiểu là nghĩa lý gì mà tục thường cho linh nghiệm.

Ví như có câu rằng: « Cẩu vĩ trư đầu xuất thánh nhân » tục cho ứng vào đức Gia Long nhất thống năm nhâm tuất. Lại như câu rằng: « Bạch thủ bạch phát lại sơn hà » tục cho ứng vào nhà nước sang bảo hộ, v.v...
Đại để lời sấm ký, không mấy câu có nghĩa lý rõ ràng, tục hơi thấy việc gì tương tự vào lời sấm một chút, thì cố vận lấy nghĩa cho là nghiệm, mà kỳ thực thì viển vông lắm.

Xét các cách chiêm nghiệm của ta, toàn là bởi ta tin một lẽ âm dương quỉ thần. Nhưng xem ra cách nào cũng vậy, phần huyền ảo thì nhiều, phần linh nghiệm thì ít. Vả lại thơ tiên, thẻ thánh, lời đồng dao, câu sấm ký, toàn là ý tứ mông mênh, câu đoán ngược, câu đoán xuôi, câu đoán ngay, câu đoán tréo, cho hay là dở, cho dở là hay, thế nào mà không được. Đến lúc việc đã rõ ràng mới vận cho nghiệm vào câu thần thánh chỉ bảo, thì vận thế nào mà chẳng hay. Còn như phép nhâm độn thì là suy lẽ âm dương ngũ hành, cũng hồ đồ lắm. Phép xem chân giò thì lại vu vơ nữa.
Nói tóm lại thì các cách đó tuy là của các cụ khí xưa bày ra, tục ta tin theo đã lâu, nhưng toàn là sự mập mờ, tưởng không nên tin làm gì mà thêm nhảm. Mà nghề thế, phàm việc gì đã không tin thì thôi, chớ đã tin thì hay đem lòng vướng vít, lại làm ngăn trở cho việc mình. Vậy thì ta nên tin các việc đã thực hiện ra trước mắt ta, và cái sức ta có thể làm ra, chớ ngoại giả không nên tin gì hết.

Trích "Việt Nam Phong Tục" - Phan Kế Bính.

Phù thủy

By Xuy Tuyet  |  Phù thủy




Nhà phù thủy, nhà nào cũng có lập một cửa tĩnh, thờ phụng Thái-thượng lão-quân và Thần Độc-cước. Có người lại thờ Quan-âm phật-bà hoặc Chư-vị, v.v...
Phù thủy có phép luyện âm binh âm tướng, thường đêm khuya đến những nơi tha-ma mộ-địa, đốt hương khấn khứa, luyện phù luyện phép, để cầu cho các âm hồn phải theo hiệu lịnh của mình.
Các nhà thường dân có người chết, sợ chết phải giờ xấu bị hung thần tra khảo, phải nhờ thầy phù thủy làm bùa dán trong ngoài quan tài, và yểm bùa ở nhà cùng là chung quanh huyệt để trấn áp ma quỉ.
Người có tật bệnh, cho là ma làm nên ốm, thì mời thầy phù thủy cúng cấp trừ tà. Thầy phù thủy có khi phụ trượng, một người cầm trượng đi khua khắp trong nhà để khua ma; có khi phụ thần bạch xà, họ làm con rắn bằng rơm, trong ruột có máy cho cựa động bò được. Người ta không biết, tưởng là phép tài.
Nhà có người mất thương nhớ, có người mời thầy phù thủy cành phan, một người nhà cầm cành tre ngồi trước đàn, thầy phù thủy phụ đồng cho âm hồn người chết nhập vào người ngồi đồng mà nói. Có người mời thầy phù thủy đánh đồng thiếp để xuống âm phủ đi tìm. Thầy phù thủy lập đàn cúng cấp để người nhà ngồi đồng, tin cảnh trống phách rầm rĩ, ấn quyết tụng niệm, làm cho người ngồi đồng mê mẩn tâm thần.
Tục truyền nhiều khi thầy cao tay làm cho người sống xuống được âm phủ, mà giáp mặt người chết để trò chuyện.
Phù thủy lại hay có phép làm bùa yêu, bùa mê cho người ta. Bùa yêu làm cho hai người ghét nhau đến đâu cũng phải yêu nhau. Bùa mê làm cho người ta mê mẩn hóa rồ hóa dại.
Tục lại truyền các thầy có thể làm ra lắm cách kinh nhân nhĩ mục. Có người sai được âm binh đánh cau đằng trước sân ra đằng sau nhà; có người sai được âm binh ném đá ném gạch vào nhà người ta.

Phù thủy là một thuật huyền ảo, xưa nay không có ích gì cho việc đời. Người ta không xét lý cho đến nơi đến chốn, cứ thấy trong các tiểu thuyết nói những chuyện hoang đường thì tin cho là việc thực, thực là hại cho dân trí lắm. Còn như các thầy phù thủy chẳng qua mượn tiếng thần thánh, làm bộ tay ấn tay quyết, trừ quỉ trừ ma, lừa kẻ ngu đần để làm nghề kiếm ăn, đã không ích gì lại làm cổ hoặc cho lòng người!
Có người nói: thuật phù thủy xưa nay cũng nhiều như ở Tàu thì có đám Hoàng-Cân, đám Bạch-Liên-giáo, cắt giấy vặn cỏ làm thành binh mã bay được trên không; ở nước ta khi xưa thì như ông Đại-Điên, ông Từ-đạoi-Hạnh, người thì có phép hóa hình biến tướng, ngườ thì có phép thả gậy sắt trôi ngược dòng sông. Mà những kiểu vẽ bùa, những câu chú niệm của Trương-Thiên-Sư còn rành rành để lại, có lẽ cho là bậy bạ được cả hay sao?
Thưa rằng: những chuyện ấy thì còn chép ở trong sách thực, nhưng đã chắc trong sách làm đủ tin chưa? Mà túng nhiên quả có thuật ấy, thì tưởng cũng như một trò quỉ thuật của Âu-châu mà thôi, chỉ để làm một trò xem chơi là được, chớ không dùng được việc gì cả. Cứ tin như sách thì lại thử xem trong sách, xưa nay như bọn Hoàng-Cân, bọn Bạch-Liên, có đám nào ra gì không?
Mà chẳng nói đâu xa nữa, hãy xem ngay ở nước ta mới rồi, nào Kỳ-Đồng, nào Thiên-Binh, nào đám Phan-xích-Long ở Nam-Kỳ, nào đám tự xưng thần Tản-Viên ở Phú Thọ, đám nào cũng tự thị là có thuật phù thủy đó, có đám nào là bảo toàn được không? Vậy đủ biết thuật phù thủy là một thuật giả dối, mà chỉ là câu nói láo để lừa người.
Phép thuật nào cho bằng phép thuật do cách trí mà làm ra. Xem như máy bay trên trời, tàu chạy ngầm dưới nước, điện truyền không phải dây, xe chạy không phải ngựa, v.v... thì phù thủy nào mà tài như thế?

Trích "Phong Tục Việt Nam" - Phan Kế Bính.


Chọn ngày tốt xấu. Mê tín hay khoa học ?

By Xuy Tuyet  |  Phong tục Việt Nam

Bốc Phệ

By Xuy Tuyet  |  Phong tục Việt Nam

Lối bốc phệ khởi trước từ vua Phục-Hi, xem tượng Hà-Đồ mà vạch ra tám quẻ: càn, khảm, cấn, chấn, tốn, ly, khôn, đoài. Tám quẻ ấy là tám quẻ chính. Mỗi quẻ chính lại nhân ra tám quẻ trùng quái, tám tám thành ra 64 quẻ. Mỗi quẻ trùng quái có sáu nét vạch gọi là sáu hào, sáu mươi bốn quẻ thì cả thảy có 384 hào.
Trong 384 hào, mỗi một hào biến động lại hóa ra quẻ khác, cho nên cai quát hết muôn việc biến hóa của trời đất. Mà muôn việc trong trời đất thì không điều gì ra được ngoài lẽ âm dương ngũ hành. Phép bốc phệ chỉ suy lẽ âm dương ngũ hành mà đoán hết được mọi việc.
Sau vua Phục-Hi có vua Văn-Vương đặt ra thoán từ là lời đoán từng quẻ; ông Châu-Công đặt ra hào từ là lời đoán từng hào. Đến Đức Khổng-Tử lại đặt ra tượng từ là lời giải-nghĩa các thoán-từ, hào-từ của Văn-Vương, Châu-Công, từ đó các nhà bói toán cứ theo lời ấy mà đoán quẻ.
Phép bói dịch thì chỉ có hai cách: một là bói rùa, hai là bói cỏ thi. Các nhà thuật số về sau, lại suy diễn cái lẽ âm dương ngũ hành mà đặt ra nhiều phép bói như là ưởng bốc (bói bằng tiếng), ngõa bốc (bói bằng ngói), mễ bốc (bói bằng gạo), hoa thảo bốc (bói bằng cành hoa, lá cỏ), v.v... Kể ra thì nhiều cách lắm, song tục ta theo dùng thì đại để có mấy lối kể sau này:

1.Thi bốc:
Là phép bói cỏ thi. Phép này, trước hết phải có một bộ 50 chiếc cỏ thi, cắt đều nhau dài chừng ba bốn tấc, bỏ vào một cái túi, để cho sạch sẽ cẩn thận. Khi có việc gì cần phải bói thì mới đem bộ cỏ thi ra đặt trên một cái yên, thành kính mà đem việc của mình nghi ngờ, khấn xin thần minh chỉ giáo. Đoạn bỏ riêng một chiếc cỏ thi vào trong túi, để sánh với thái cực, còn bốn mươi chín chiếc chia làm đôi mà đặt xuống hai cái khấc một mảnh ván con, rồi tay tả cầm lấy một nắm cỏ thi ở phía tả, lại lấy một chiếc cỏ thi ở cái khấc phía hữu cài vào khe ngón tay bên tả, để sánh với tam tài. Đâu đấy mới lấy tay hữu mà đếm nắm cỏ thi bên tay tả, cứ bốn một mà đếm, nghĩa là thủ tượng với tứ thời. Đếm như thế rồi còn thừa số sau cùng hoặc một, hai, ba, bốn chiếc thì cài vào trong khe ngón tay vô danh. Đó gọi là giả số lẻ mà cài vào trong ngón tay để sánh với tháng nhuận.
Đếm xong thì lại trả những số đếm rồi để vào chỗ khấc lớn phía tả, rồi cầm lấy một nắm ở phía hữu mà đếm bằng tay tả. Cách đếm cũng như trước, rồi còn số thừa thì cài vào khe ngón tay giữa. Đoạn lại trả số đã đếm rồi để vào khấc lớn phía hữu.
Xong thì hợp cả ba số cài trên tay mà đặt xuống một khấc nhỏ thứ nhất trên mảnh ván.
Đó là một lần đếm. Lần thứ hai dồn những cỏ thi để hai khấc lớn làm một, rồi chia ra đặt hai bên, lại theo cách trước mà đếm. Lần thứ ba cũng làm như vậy. Ba lần đếm như thế rồi hợp cả số đã đếm còn được ba mươi sáu chiếc thì là hào lão dương, gọi là trùng, khuyên một cái vòng tròn làm dấu; còn ba mươi hai chiếc là thiếu âm, gọi là sách, vạch hai nét như hình chữ bát làm dấu, còn hai mươi tám chiếc là thiếu dương gọi là đơn, vạch một chữ nhất làm dấu, còn hai mươi bốn chiếc là lão âm gọi là giao, vạch tréo chữ thập làm dấu.
Ba lần đếm mới thành một hào. Thành một hào rồi thì hợp cả lại mà đếm như trước. Đếm hai mươi tám lần thì được sáu hào, mới thành một quẻ. Thành quẻ rồi thì xem hào nào động biến làm sao, rồi cứ chiếu các lời của Văn-Vương, Châu-Công, Khổng-Tử; hoặc là xét trong quái hoạch của Phục-Hi mà đoán. Bói hay dở chỉ tại người đoán cao đoán thấp mà thôi.
Tục ta cho phép bói dịch rất thiêng liêng, cho nên khi xưa nhà vua có việc gì to tát quan hệ thường sai bói dịch. Các nhà thi thư nước ta tin mến đạo dịch, cũng nhiều nhà chứa sẵn một bộ cỏ thi, để vào túi gấm rất cẩn thận và hương hoa thờ phụng quanh năm. Khi có việc quan trọng đem ra bói, cũng nhiều khi có điều linh nghiệm, nhưng có cao đoán mới hay.

2.Mai Hoa bốc:
Là phép bói chiết tự. Phép này của ông Thiệu-Khang-Tiết đời nhà Tống đặt ra, đã đặt sẵn từng quẻ và có sẵn những lời giải đoán. Ai có việc gì muốn bói thì tùy ý mình, muốn viết chữ gì thì viết, phải viết ra một chữ, rồi mới trông hình trạng chữ hoặc đếm nét chữ mà khép vào quẻ, xem lời quẻ thế nào mới đoán được. Hoặc lấy ý nghĩa trong chữ mà đoán.
Ví dụ một người bói việc cầu hôn có thành không, viết ra một chữ tử. Người đoán: chữ tử trên chữ nhất dưới chữ uyên. Thế là nhất sàng cẩm bị túc uyên-ương (một giường chăn gấm chim uyên-ương ngủ), tất là việc cầu hôn thành. Lại một người xem vợ đi xa đã đến chưa, viết ra một chữ dạng. Người đoán: chữ dạng tựa như chữ ân, mà trên không có đầu; lại giống chữ nghĩa, mà dưới không có chân. Thế là đoạn ân tuyệt nghĩa, tất là không được gặp nhau, v.v... Phép này cách đoán cũng mông mênh lắm, ta đôi khi mới có người xem chơi mà thôi.

3.Kim tiền bốc:
Là phép bói gieo tiền đồng. Phép này thì từ Kính-Phòng đời nhà Hán đặt ra. Về sau ông Giã-Hạc lại lập sẵn các quẻ, và nghị luận thêm tinh tường, cho nên lại gọi là phép bói Giã-Hạc. Phép này giản tiện hơn cả các cách khác cho nên ta theo dùng nhiều, mà nhất là các thầy bói lại chỉ chuyên về phép ấy.
Phép bói phải có ba đồng. Người xem bói, hoặc hỏi việc công danh, hoặc hỏi việc tài lợi, v.v... thì nói cho thầy bói biết. Thầy bói khấn rồi gieo quẻ. Hễ ba đồng ngửa cả gọi là trùng, ba đồng sấp cả gọi là giao, một sấp hai ngửa gọi là đơn, một ngửa hai sấp gọi là sách.
Mỗi lần gieo là một hào: Trùng là hào thái dương, giao là hào thái âm, đơn là hào thiếu dương, sách là hào thiếu âm.
Gieo sáu lần thành một quẻ, bấy giờ mới xem hào nào động, hào nào tĩnh mà đoán.
Sáu hào ăn theo năm việc là phụ mẫu, thê tài, huynh đệ, tử tôn, quan quĩ. Hễ hào nào động thì chủ về việc ấy, ví như hào phụ mẫu động thì chủ về việc cha mẹ, hào tử tôn động thì chủ về việc con cháu, v.v...
Đoán quẻ cốt nhất phải tính ngũ hành sinh khắc.
Ngũ hành tương sinh: Mộc sinh hỏa, hỏa sinh thổ, thổ sinh kim, kim sinh thủy, thủy sinh mộc.
Ngũ hành tương khắc: Mộc khắc thổ, thổ khắc thủy, thủy khắc hỏa, hỏa khắc kim, kim khắc mộc.
Lại cần nhất là phải xem thế ứng đứng vào hào nào. Thế tức là mình ứng là người ngoài, hễ mình đứng vào đâu là chủ vào mình quan hệ với việc ấy.
Xem quẻ lại phải xem nhật-thần (ngày), nguyệt-tướng (tháng). Hễ nhật nguyệt sinh phù vượng trợ cho mình là tốt, hình sung khắc hại với mình là xấu. Lại xem việc mình sở chủ, như mình chủ cầu công danh thì xem hào quan quĩ, chủ việc buôn bán thì xem hào thê tài v.v... Việc sở chủ được sinh vượng thì hay, phải hình sung thì dở.
Phép bói này giản tiện mà cao đoán cũng hay. Nhưng nghề thầy bói thì chỉ thuộc lòng các lề lối, xem gia sự, hễ thấy hào quan quĩ động thì cho ngay là có ma làm, đã xui nhà chủ phải cúng cấp thế này thế khác; xem cầu tài, thấy hào thê tài động hoặc bị nhật thần nguyệt tướng sung khắc thì cho ngay là thất lợi, xui người ta giữ gìn cho khéo kẻo mất trộm. Thầy bói phần nhiều là nói dựa, may ra một trăm điều, cũng trúng một hai điều thì đã nổi tiếng là hay.
Ngoài các phép trên này, ta còn cách bói Kiều, bói âm dương nữa. Bói Kiều là mình có việc gì muốn được biết hay dở đường nào thì khấn với Thúy-Kiều, Kim-Trọng xin cho mấy cân dòng nào, rồi mở cuốn sách Kiều, bất kỳ chỗ nào, gặp chỗ nào thì lấy mấy câu thứ mấy ở trang ấy mà đoán. Cách này là một cách bói chơi, nhưng cũng nhiều khi có người cho là nghiệm. Bói âm dương là mình có việc gì cầu khẩn với thần thánh, không biết việc ấy có nên không, hoặc hay dở thế nào thì lễ mà khấn xin một keo âm dương. Hễ gieo hai đồng tiền trên cái đĩa, một đồng sấp một đồng ngửa là sở cầu như nguyện; hai đồng sấp cả hoặc ngửa cả đều là không nên việc. Hoặc một đồng ngã một đồng còn quay thì là thần thánh cười chưa cho quyết bề nào, lại phải kêu xin gieo quẻ khác cho được biết chắc.

Nước ta tin việc quỉ thần, cho nên cũng theo cách Tàu mà chuộng việc bói toán. Bói cốt là đem việc mình mà hỏi quỉ thần, để quyết cái lòng mình ngờ vực, định cái sự mình hồ nghi, cho đặng biết đường hay lẽ phải để theo về đường lành mà lánh đường dữ.
Việc bốc phệ là của các tiên thánh đặt ra, mà xét trong sử sách, phép bói cũng nhiều điều nghiệm lắm. Các thầy bói giỏi như Quản-Lộ, Quách-Phác xưa kia, đoán trăm quẻ trúng cả trăm, còn rành rành để chuyện lại đời sau, không nên cho là điều vô lý cả được.
Duy một điều: phần ứng nghiệm thì ít mà phần viển vông thì nhiều; mà cũng chẳng mấy khi có người cao đoán, chẳng qua các thầy bói nói rờ nói rẫm, trăm điều làm sao chẳng tin được một hai điều.
Vả lại, người ta nên tin ở sức mình tài mình. Việc gì mình đã có chí thì phải làm nên được. Sự hay sự dở, do ở mình mà ra; mà mình làm việc gì thì tất mắt mình trông thấy trước, can gì phải hỏi đâu. Mình cứ một mục đích theo lẽ phải, dù may dù rủi mặc dầu, can gì phải hỏi xem hay dở thế nào nữa. Ví dầu có thần thánh cũng dạy mình theo lẽ phải, không có lẽ thần thánh thấy mình phải mà lại bảo không nên làm được. Còn như cái họa phúc, bảo rằng bói để nhờ thần thánh dạy cho, để biết đường trước mà liệu mình. Lời ấy thì lại thiển lắm. Họa phúc là mình làm lấy, chớ không tự đâu. Mà nếu có sự bất kỳ, một may một rủi, thì chẳng qua là sự xảy ra, chớ người hay, dẫu nghèo khổ cơ cực, trăm nghìn năm vẫn còn tiếng người hay; người dở, dẫu giàu sang sung sướng, trăm nghìn năm vẫn là tiếng người dở, can gì phải liệu mình.
Vậy thì phép bói, dù linh nghiệm dù không linh nghiệm thế nào mặc lòng, thiết tưởng người ta không nên tin, nghĩa là tin cũng vô ích không giúp thêm được việc gì mà lại thêm làm ngại lòng cho người ta nữa.

Theo "Phong Tục Việt Nam - Phan Kế Bính"

Tướng Thuật

By Xuy Tuyet  |  Phong tục Việt Nam

Phép xem tướng có cũng đã lâu. Bên Tàu có những sách Ma-y tướng-pháp, Liễu-trang thủy-kính, Vương-thị phong-giám, Tướng-lý hành-chân, v.v... Các sách ấy luận về cách xem tướng đã tường, mà cứ lời trong sử sách để lại thì ứng nghiệm cũng nhiều lắm. Bên ta cũng nhiều người tin theo sách tướng, song người thông thái không mấy người chịu lưu tâm kê cứu cho tinh, chỉ những hạng thường thường học võ vẽ đôi ba phép, rồi dở nghề kiếm ăn mà thôi.
Phép xem tướng nhiều lắm, nói đại khái mấy phép yếu ước như sau này:

A. Xem trên bộ mặt.
Bộ mặt chia làm mười hai cung, mỗi cung chủ về một việc.
1) Ấn đường (ở giữa hai bên lông mày) gọi là mệnh cung, chủ về bản mệnh. Hễ sáng sủa nở nang thì chắc là người phúc hậu khoa hoạn, ngấn da rối rít thì tổn thọ.
2) Hai bên mũi gọi là cung tài bạch, chủ về của cải. Hễ phổng pháp sáng sủa, chắc giàu có; hình như huyền-đảm thì giàu to. Nếu nhọn hớt mỏng mẻo tất nghèo hèn.
3) Hai bên đầu lông mi gọi là cung huynh đệ, chủ về anh em. Lông mi dài tốt thì anh em đông đúc vui vẻ, thưa ngắn thì anh em ly biệt cô độc, có lông mọc ngược thì chắc anh em thù nhau. Thanh mà có vẻ, tất là người quí hiển thanh cao. Lông mi dài, chủ thọ.
4) Hai mắt gọi là cung điền trạch, chủ về cửa nhà ruộng nương. Nếu trong trẻo, đen trắng phân minh. Hễ minh nhuận chắc cửa nhà giàu có; nếu đê hãm hôn ám thì chắc điền trạch phá hại. Con mắt lại là tinh tú nhất cả trong người, nhiều sự quan hệ ở trong đó.
4) Ngọa tàm (hai ổ dưới mắt) gọi là cung nam nữ, chủ về con cái. Hồng hào đầy đặn, lắm con. Dưới mắt bên tả có cái ngấn ngọa tàm, chủ sinh quí tử.
6) Ngư vĩ (hai bên đôi mắt) là cung thê thiếp, chủ về đường vợ chồng. Sáng sủa không có ngấn sâu thì vợ chồng hay: đầy đặn lắm vợ nhiều con, lõm thấp dâm loạn.
7) Địa các (dưới cằm) gọi là cung nô bộc, chủ về việc tôi tớ. Đầy đặn nhiều tôi tớ, khuyết lõm không đứa nào.
8) Sơn côn (sống mũi) gọi là cung tật ách, chủ về tật bịnh. Đầy đặn ít tật bịnh, sâu lõm thâm tím hay đau yếu.
9) Hai bên gò má cạnh trái tai gọi là cung thiên di, chủ về đi ra ngoài. Sáng sủa ra ngoài hay, đen tối hoặc lõm thấp và có nốt ruồi, không nên đi xa.
10) Đỉnh trán gọi là cung quan lộc, chủ về việc công danh. Sáng sủa đầy đặn, công danh thanh thản.
11) Hai bên sát trái tai, ngoài cung thiên di, gọi là cung phúc đức, chủ về phúc-ấm nhà mình. Đầy đặn sáng sủa thì chắc được hưởng phúc lộc vô cùng.
12) Gò trán đôi bên gọi là cung phụ mẫu, chủ về việc cha mẹ. Cao và sáng sủa, cha mẹ sống lâu; hắc hãm, cha mẹ có bệnh. Lệch góc bên tả cha mất trước, lệch góc bên hữu mẹ mất trước.
Trên bộ mặt lại chia làm tam đình: Thượng đình từ chân tóc đến lông mày, chủ về tiền vận, nở nang sáng sủa thì tiền vận hay; trung đình từ lông mày đến dưới mũi chủ trung vận, đầy đặn ngay ngắn thì trung vận sung sướng. Hạ đình từ dưới mũi đến cằm, chủ hậu vận, đầy đặn nở nang thì hậu vận thanh thản.

B. Xem bàn tay.
Bàn tay chia làm tám cung: kiền, khảm, cấn, chấn, tốn, ly, không, đoài. Còn ở giữa là minh đường.



1) Kiền ở góc tây bắc bàn tay, cao thì được ơn cha nhờ mẹ, thấp thì tổn cha mẹ.
2) Khảm ở chính bắc bàn tay, cao thì cơ nghiệp vững bền, thấp thì tan nát.
3) Cấn ở góc đông bắc bàn tay, cao thì cửa nhà ruộng nương thịnh vượng, thấp thì anh em đơn thưa.
4) Chấn ở chính đông bàn tay, cao thì vợ con hay, thấp thì vợ con không ra gì.
5) Tốn ở góc đông nam bàn tay, cao thì lắm của cải, thấp thì nghèo kiết.
6) Ly ở chính nam bàn tay, cao thì quan lộc tốt, thấp thì kém lộc.
7) Khôn ở góc tây nam bàn tay, cao thì con cái đông đúc, thấp thì ít con.
8) Đoài ở chính tây bàn tay, cao thì đầy tớ nhiều, thấp thì không có.
9) Minh đường ở giữa lòng bàn tay, sáng sủa sinh nhiều sự hay, hắc hãm bị nhiều tai nạn.

C. Xem ngón tay.
Tay có năm ngón, mỗi ngón có một tướng riêng.
1) Ngón tay cái gọi là đại-chỉ. Hễ đốt ngót tay này có nhiều văn xoáy tròn phân minh thì chắc là văn học giỏi.
2) Ngón thứ hai gọi là thực chỉ. Đốt ngón tay này nên ngay ngắn tròn trặn. Nếu vênh ra ngoài mà lìa ngón giữa, tất phải nghèo khổ; ngắn, tổn vợ, sợ vợ; cong, lao lực giang hồ, ngắn quá cô độc.
3) Ngón tay giữa gọi là trung chỉ. Xem tướng cốt ở ngón này, nên quang nhuận; văn ngón ấy nếu lệch lẹo, công danh trắc trở; văn phản lại, nghèo hèn.
4) Ngón thứ tư gọi là ngón vô danh. Ngón này ứng về anh em vợ con. Nếu quang nhuận, không có văn tréo nhau là tốt; lệch lẹo, tất anh em cách biệt và thương tổn thê thiếp. Ở khe dưới kín đáo, hậu vận hưởng tài lộc sung sướng.
5) Ngón út gọi là tiểu chỉ. Nếu thanh tú, có văn tréo nhau chắc sống lâu. Đầu ngón tay dài quá ngấn trên ngón vô danh, chắc là người khéo, lắm nghề tài.

D.Các cách tướng.
Trong tướng pháp lại có mấy cách tương hợp như sau này:
1) Tướng ngũ-tràng. Ngũ tràng là đầu dài, mặt dài, thân dài, tay dài, chân dài. Ngũ tràng mà mặt mũi cốt tướng vạm vỡ thanh tú, thì mới hay; nếu xương khô gân lộ thì dẫu ngũ-tràng cũng là tướng bần tiện. Trong tướng ấy nếu chân dài tay vắn cũng là tướng bần tiện, nếu chân vắn tay dài thì chắc là tướng phú quí.
2) Tướng ngũ-đoản. Ngũ đoản là đầu vắn, mặt vắn, thân vắn, tay vắn, chân vắn. Ngũ đoản mà được xương thịt nhỏ nhắn, ấn đường sáng sủa, ngũ nhạc triều tiếp thì là tướng đại quí; nếu xương thịt thô lộ xấu xa, ngũ nhạc lệch lẹo thì là tướng hạ tiện. Trong tướng ấy nếu trên dài dưới vắn, cũng là chủ phú quí; nếu trên vắn dưới dài thì chủ bần tiện.
3) Tướng ngũ lộ. Ngũ lộ là mắt lồi, mũi lõ, tai bạt, môi chẩu, cổ lộ hầu. Mắt lồi tổn thọ, mũi lõ chết đường, tai bạt ngu si, môi chẩu chết không được tử tế, cổ lộ hầu chủ nghèo, chết non. Nếu được toàn ngũ-lộ thì lại là hay.
4) Tướng ngũ-tiểu. Ngũ tiểu là đầu nhỏ, mắt nhỏ, bụng nhỏ, tai nhỏ, miệng nhỏ. Ngũ tiểu mà đều ngay ngắn nở nang thì là quí cách, hoặc đầu nhỏ mà sống óc gồ cao, mắt nhỏ mà thanh tú, bụng nhỏ mà tròn trặn, tai nhỏ mà vành rộng, miệng nhỏ mà môi răng ngay ngắn thì lại là tướng đại quí, nếu ba bốn thứ nhỏ mà một vài thứ to lại là tướng bần tiện.
5) Tướng lục tiện. Lục tiện là: không biết sự xấu hổ, là một điều hèn, gặp việc gì cũng cười sằng sặc là hai điều hèn; không biết đường nên tiến thoái, là ba điều hèn; hay nói xấu người ta là bốn điều hèn; hay khoe hợm cái tài của mình là năm điều hèn; hay nịnh hót là sáu điều hèn. Tướng ấy là tướng tiểu nhân.
Ngoài các cách trên này, còn nhiều cách nữa, như là xem tai, xem miệng, xem râu, xem tóc, xem vai, xem ngực, xem lưng, xem vú, xem rốn, xem tướng ngồi, tướng đứng, xem tướng ăn, tướng nằm, xem lời ăn tiếng nói, xem tâm tính tinh thần, v.v... Nhưng cốt nhất là xem thần khí, mà cách xem đều có phép riêng, thường lại ghép với ngũ hành, bát quái, ngũ tinh, lục thần, lưu niên vận khí, kể ra lôi thôi lắm. Nếu muốn biết cho tường tất, thì phải xem đến sách tướng mới đủ.
Ta cũng có mấy câu tướng pháp tục truyền như sau này:
Thượng bộ: Hói đầu sống lâu — mắt to cứng cỏ — mắt lá răm đa tình — mắt trắng bạc bẽo — mắt đỏ hung bạo — mắt lươn tinh vặt — mắt tròng trộm gian phi — con mắt lá răm lông mày lá liễu đáng trăm quan tiền — môi thâm thiểm độc — Đàn ông miệng rộng thì sang, đàn bà miệng rộng tan hoang cửa nhà — mỏng môi hay hớt dày môi hay hờn — mũi hớt thì nghèo mũi huyếch thì hoang — Đàn bà mũi dọc dừa vượng phu ích tử; mũi gẫy, mũi tẹt nghèo hèn. Trẻ con mũi có gân xanh, hay sài — tai to sống lâu, tai dầy giàu có — Đàn bà có gò má cao sát chồng — Răng cửa to là người thật thà — Râu quặp sợ vợ — râu tôm chết non — Nốt ruồi ở cổ là lỗ tiền chôn, nốt ruồi ở tay ăn vay cả đời — Mắt khó đăm đăm, tát nước đầm không cạn.
Trung hạ bộ: Đàn bà lưng chữ ngũ vú chữ tâm, nhiều con — Vai u thịt bắp là tướng ngu hèn — Bàn tay đầy, bàn chân đầy là tướng phúc hậu giàu có — Ngón tay búp măng là người đảm đang — ngón tay chuối bụt là người thô tục — móng tay dầy là người gan — móng tay mỏ xẻ là người hiểm — Bàn tay gà bới thì khó, chó bới thì giầu — Sâu rốn sống lâu — Khô chân gân mặt đắt tiền cũng mua.
Cách điệu: Dáng ngồi như chuông úp, giàu có — Đi vặn mình và cắm đầu đi trước là tướng chết non — Đi đứng vững vàng là người phúc hậu. Đi hấp tấp là tướng vất vả — Ăn uống khoan thai là tướng thanh cao, ăn uống nhồm nhoàm là người thô tục — Nam thực như hổ, nữ thực như miêu (đàn ông ăn như hùm, đàn bà ăn như mèo) — Nằm co thì giàu, nằm sóng sượt thì hèn — ngủ ngáy o o, chết yểu — Thực tốc hành trì, quí nhân chi tướng (ăn mau đi chậm là tướng quí nhân), cười nửa miệng là người sâu sắc — Nói rít hai hàm răng là người cay nghiệt — Chưa nói đã cười là người vô duyên.
Người ta bẩm thụ khí chất của trời đất mà sinh ra, có người được khí thanh tú, có người phải khí ô trọc; có người được chất tinh anh, có người phải chất thô bỉ. Thanh tú, tinh anh thì rồi nên người hiền-hậu; ô trọc thô bỉ thì rồi ra người ngu xuẩn, người bạc ác. Khôn ngoan hiền hậu thì tất được hưởng những sự phú quí phong lưu, tràng thọ danh giá, mà hiện ra ngoài thân thể mặt mũi tất nhiên đầy đặn sáng sủa, ngay ngắn phương phi; ngu xuẩn bạc ác thì tất phải chịu những sự bần tiện khổ sở, tai nạn tật ách, mà hiện ra ngoài thân thể mặt mũi tất nhiên lệch lạc, tối tăm mỏng mẻo. Ấy là cái cớ sở dĩ có phép xem tướng.
Tục ngữ ta có câu rằng: nhân hiền tại mạo. Lại có câu rằng: khôn ngoan hiện ra mặt, què quặt hiện ra chân tay. Cũng là có ý ấy.
Tuy vậy, một cách xem tướng bề ngoài, cũng chưa đủ mà biết được kẻ dở người hay, vì là nhiều người do học thức tập nhiễm mà biến đổi tâm tính, thì hay dở không quan hệ gì bề ngoài nữa.
Cho nên lại có câu rằng: tướng mạo bất thư tướng tâm.
Vậy muốn biết người, chỉ cốt xem học thức, tâm tình, tài trí, phẩm hạnh thì mới biết rõ được người.
Kìa như Yến-Anh bé nhỏ, sao lại làm nên vị tướng quốc nước Tề. Bùi-Độ thấp lùn, sao lại làm đến ngôi tể tướng nhà Đường? Tang-duy-Hàn ở đời Ngũ-đại, mặt dài mình ngắn, quái dị xấu xa, sao lại làm đến bực công phu? Mạc-đĩnh-Chi ở bên nước ta mặt quắt thân lùn, hình thù đê tiện, sao lại đỗ đến Trạng-nguyên? Xem vậy đủ biết hiền ngu sang hèn cốt ở trong lòng, chớ ở mặt mũi chân tay, chẳng qua như cái vỏ ngoài mà thôi.
Thế mới biết bề trong tốt thì dẫu bề ngoài xấu xa, cũng đủ làm nên phong lưu phú quí, mà lại làm nên người danh giá vô cùng. Mà nếu trong bụng tàn nhẫn bất nhân, kiêu ngoa bạc ác thì dẫu mặt đẹp như ngọc, mắt sáng như gương, trán nở tai to, mũi cao miệng rộng, chẳng qua cũng như mã giẻ-cùi, dù có may mà giàu có phong vận nhất thì, nhưng đê tiện vẫn hoàn cách đê tiện, trăm năm để mãi tiếng cười về sau.
Trong sách tướng của ông Ma-Y nói rằng: "Hữu tâm vô tướng, tướng tùy tâm sinh; hữu tướng võ tâm, tướng trục tâm diệt" nghĩa là có bụng không có tướng, thì tướng phải theo bụng sinh ra; có tướng không có bụng, thì tướng phải theo bụng mà mất đi. Cũng là ý trọng bụng hơn tướng, mà lại cho là tướng tốt ở bụng mà ra, rất là lời chí lý.

Trích "Phong Tục Việt Nam - Phan Kế Bính"

Cách xem ngày, kén giờ

By Xuy Tuyet  |  xem ngày tốt

Việc cưới xin, việc làm cửa làm nhà, việc vui mừng khai hạ, việc xuất hành đi xa, việc khai trương cửa hàng cửa hiệu, việc gieo mạ cấy lúa, việc tế tự, việc thương biểu, việc nhập học, việc xuất quân, việc an táng v.v... việc gì thường cũng phải xem ngày kén giờ. Nhất là đầu năm mới bắt đầu làm việc gì, hoặc động thổ, hoặc xuất hành, hoặc khai bút, khai ấn v.v... lại cần xem ngày lắm. Đến những việc vụn vặt như cạo đầu, xỏ tai cho trẻ thơ, việc tắm gội, may áo v.v... cũng có người cẩn thận quá mà kén ngày.
Kén ngày thì phải xem đến lịch. Sách lịch do tòa Khâm-thiên-giám soạn ra. Mỗi năm về ngày mồng một tháng chạp, Hoàng đế ngự điện khai trào, các quan tòa Khâm-thiên-giám cung tiến Hiệp-kỷ-lịch, rồi khâm mạng vua mà ban lịch đi các nơi.
Lệ phát lịch, bao nhiêu văn võ quan lại cho đến tổng lý đều được. Tự quan tứ phẩm trở lên thì lịch có ấn dấu Kim-bảo; còn ngũ phẩm trở xuống thì ấn dấu Giám. Còn dân gian thì mua lịch của Giám in ra mà dùng.
Ban lịch trọng nhất là để cho thiên hạ biết chính xác tiết khí, tháng thiếu tháng đủ, ngày tốt ngày xấu, để cho tuân hành được đều nhau.
Đại để ngày nào có nhiều sao cát-tinh như Thiên-đức, Nguyệt-đức, Thiên-hỉ v.v... hoặc là ngày trực khai, trực kiến, trực binh, trực mãn thì là ngày tốt; ngày nào có những sao hung tinh như sao Trùng-tang, Trùng-cửu, Thiên hình, Nguyệt-phá v.v... hoặc là ngày trực-nguy, trực phá thì là ngày xấu.
Kiêng nhất là ngày sát chủ, ngày thọ tử, việc gì cũng phải tránh. Mỗi tháng có ba ngày là ngày 5, 14, 23, gọi là nguyệt kỵ, việc gì cũng nên kiêng mà nhất là kiêng sự nhập phòng. Trong một năm lại có mười ba ngày gọi là ngày Dương công kỵ nhật, hết thảy việc gì cũng phải tránh những ngày ấy.
Những ngày ấy là:
Ngày 13 tháng giêng,
— 12 — hai,
— 9 — ba,
— 7 — tư,
— 5 — năm,
— 3 — sáu,
— 8 và 29 — bảy,
— 27 — tám,
— 25 — chín,
— 23 — mười,
— 21 — mười một,
— 19 — chạp,
Hễ phạm phải ngày ấy thì việc gì cũng hư hỏng không thành.
Phàm việc lại cần kén ngày hợp mệnh, mà kiêng ngày tuổi.
Ngoại giả lại còn những ngày thập linh, ngày lục hợp là tốt, ngày thập ác đại bại, ngày tứ ly, ngày tứ tuyệt là xấu.
Nói qua mấy việc dân gian cần dùng nên kén nên kỵ:
Cưới xin nên tìm ngày Thiên-đức, Nguyệt-đức, kỵ ngày trực phá, trực nguy. Làm nhà nên tìm ngày Thiên-ân, Thiên-hỉ, kỵ ngày Thiên-hỏa, địa hỏa và tuổi Kim-lâu. Xuất hành nên tìm ngày Lộc mã, Hoàng đạo, kỵ ngày trực phá, trực bế. An táng nên tìm ngày Thiên-hỉ, Thiên-đức, kỵ ngày tử-khí quan phù v.v...
Còn như kén ngày giờ thì việc gì lúc mới bắt đầu như lúc mới xuất hành, lúc mới ra ngõ đi cưới, lúc mới dựng nhà, lúc mới hạ huyệt v.v... thường đều kén lấy giờ hoàng đạo.
Phép tính giờ hoàng-đạo phải nhớ bốn câu thơ:
Dần, thân gia tý; mão, dậu dần;
Thìn, tuất tầm thìn; tị, hợi thân;
Tý, ngọ thiên cương tầm ngọ vị;
Sửu, mùi tòng tuất định kỳ chân.

Lại cần phải nhớ hai câu:
Đạo viễn kỷ thời thông đạt
Lộ dao hà nhật hoàn trình
Lúc đánh giờ, trước hết phải biết ngày gì, rồi dùng hai câu thơ dưới mà bấm theo giờ ở bốn câu thơ trên. Hễ bấm mà gặp cung nào có chữ đạo, viễn, thông, đạt, dao, hoàn, thì giờ ấy là giờ hoàng đạo. Ví dụ ngày dần, ngày thân thì bấm chữ đạo ngay từ cung tý, rồi miệng đọc tay bấm lần đi: cung tý chữ đạo, cung sửu chữ viễn, cung dần chữ kỷ, cung mão chữ thời, cung thìn chữ thông, cung tỵ chữ đạt, cung ngọ chữ lộ, cung mùi chữ dao, cung thân chữ hà, cung dậu chữ nhật, cung tuất chữ hoàn, cung hợi chữ trình. Vật trong hai ngày ấy thì giờ tý, sửu, thìn, tỵ, mùi, tuất là giờ hoàng đạo. Còn các ngày khác cũng cứ theo bốn câu thơ ấy mà tìm giờ rồi cũng tính đi như thế.
Trẻ thơ mới sinh nhất là kỵ sinh phải giờ kim-xà thiết-tỏa. Sinh phải giờ ấy thì khó nuôi, phải cúng nhương giải mới nuôi được.
Phép tính giờ kim-xà thiết tỏa:
Trước hết phải xem năm, tháng, ngày giờ nào, rồi cứ tự cung tuất trên bàn tay mà bắt đầu tính năm tý; tính xuôi cho đến năm sinh thuộc về cung nào, rồi lại từ cung ấy mà khởi ngày mồng một, tính xuôi cho đến ngày sinh thuộc về cung nào, rồi lại từ cung ấy mà khởi giờ tý, tính ngược cho đến giờ sinh. Rồi mới xem giờ sinh ấy ở cung nào, hễ con trai mà phạm phải cung thìn, tuất, con gái mà phạm cung sửu, mùi thì là giờ kim-xà thiết-tỏa.
Ví dụ: Năm mão, tháng chín, ngày ba, giờ ngọ, sinh con gái.
Thì tính trên cung tuất, đếm xuôi tý, sửu, dần, mão, vậy thì mão ở cung sửu; ở cung sửu khởi tháng giêng, tính ngược tháng giêng, hai, ba, tư, năm, sáu, bảy, tám, chín, vậy thì tháng chín ở cung tỵ; ở cung tý khởi ngày mồng một, tính xuôi mồng một, hai, ba, vậy thì mồng ba ở cung mùi; ở cung mùi khởi giờ tý, tính ngược tý, sửu, dần, mão, thìn, tỵ, ngọ, vậy thì ngọ ở cung sửu, thế là giờ kim-xà thiết-toả.
Xét phép chọn ngày, từ đời Đường, Ngu, Tam-đại đã có. Song khi bấy giờ thì chỉ tùy việc mà chọn ngày: nội sự dụng nhu, ngoại sự dụng cương. Nội sự là việc trong như việc tế tự, việc cưới xin v.v... thì dùng những ngày âm can là các ngày: ất, đinh, kỷ, tân, quí; ngoại sự là việc ngoài như việc đánh dẹp, việc giao thiệp v.v... thì dùng những ngày dương-can là các ngày: giáp, bính, mậu, canh, nhâm. Dùng như thế chỉ là có ý làm việc êm ái hòa nhã thì theo về ngày âm, việc cứng cáp mạnh mẽ thì theo về ngày dương, nghĩa là kén lấy ngày có chút ý nghĩa hợp với nhau mà thôi.
Đến đời sau các nhà âm dương thuật số mỗi ngày mới bày thêm ra ngày sao tốt, ngày sao xấu, ngày này nên làm việc nọ, ngày kia nên làm việc kia. Hết ngày rồi lại có giờ sinh, giờ hợp, giờ sung, giờ khắc, động làm việc gì cũng phải xem ngày kén giờ, thực là một việc phiền toái quá. Đã đành làm việc gì cũng nên để lòng cẩn thận, mà chọn từng ngày kén từng giờ thì khí câu nệ khó chịu. Mà xét cho kỹ thì có ích gì đâu, chẳng qua việc thành hay bại cốt do ở người, chớ có quan hệ gì ngày tốt, ngày xấu. Nếu cứ chọn ngày giờ mà nên việc thì không cần gì phải dùng đến sức người nữa hay sao?
Vậy thí tục này lại là một điều vô lý nữa. Ngày nào cũng là ngày trời, giờ nào cũng là giờ ngày, tưởng chỉ nên tùy tiện lúc nào xảy đến việc gì thì làm việc ấy, bất tất phải câu nệ.

Theo sách “Phong Tục Việt Nam - Phan Kế Bính”

Nội Dung Thuộc Về: Tử Vi Xuy Tuyết
Facebook: Xem Tử Vi
Điện Thoại: 0988605815
Email: tuvixuytuyet@gmail.com
Có Thể Bạn Quan Tâm:
Nhận luận giải tử vi chuyên sâu, tư vấn phong thủy, vui lòng liên hệ: Email: tuvixuytuyet@gmail.com Facebook: Xem Tử Vi