Hiển thị các bài đăng có nhãn Kinh Nghiệm Tử Vi. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Kinh Nghiệm Tử Vi. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 22 tháng 3, 2020

Một lá số "phản vi kỳ cách"

By Xuy Tuyet  |  Kinh Nghiệm Tử Vi



Tổng Quan

- Lá số Âm Dương Nghịch Lý, Mệnh Cục Tị Hòa, mùa sinh: Tù. Cung Mệnh của lá số đặc biệt, trong Tử Vi liệt vào số “phản vi kỳ cách”, cung Thân bổ trợ tốt. Hoàn cảnh gia đình có một chút đặc biệt, đương số ra đời hài hòa nhưng thành công phải đánh đổi bằng những năm tháng khó nhọc.
- Tam hợp cung Mệnh bị Tam Hợp cung Thiên Di khắc (Kim khắc Mộc): Đi ra ngoài không áp chế được người khác, có thể làm chủ tình huống nhưng lại chịu phần thua thiệt về bản thân.
- Cung Mệnh nhị hợp cung Điền Trạch ở thế tam hợp sinh xuất (Mộc sinh Hỏa): Cuộc đời phải lo lắng về nhà đất.
- Cung An Thân (Phúc Đức) nhị hợp cung Phụ Mẫu ở thế tam hợp sinh xuất (Kim sinh Thủy): Sau này đương số là người lo lắng cho bố, mẹ rất nhiều.

Nhận xét tổng quan: Lá số có thể được liệt vào Trung Cách tầm trên. Đối với phụ nữ, các cường cung là “Phúc, Mệnh, Thân, Phu, Tài, Tử” thì lá số này có cung Mệnh đặc biệt, cung An Thân (Phúc) vững, cung Tài khá thì sẽ hơi khó nhọc, lao tâm về công việc. Tôi không nói đến sự vất vả vì điều đó do cảm nhận của bản thân. Với phụ nữ hiện đại thì lá số này không đáng ngại về mặt tình cảm nhưng trước 43 tuổi nên biết bằng lòng với bản thân, gia đình, tập trung cho công việc với thái độ say mê, bình hòa và tiết chế tham vọng (từ 30 – 39 tuổi). Từ 39 tuổi sẽ là thời kỳ bước tiến. Đại Vận 44 tuổi trở đi thì xứng ý toại lòng về công danh.

Phản Vi Kỳ Cách

- Cung mệnh vào cách chính tinh xấu “Liêm – Tham Tị, Hợi”. Cách cục này là một trong những cách ái ngại với các câu phú:
“Liêm Tham đồng đọ, nam đa lãng đãng, nữ đa dâm”
Hay
“Liêm Tham Tị Hợi phi yểu tắc bần”, “Hình ngục nan đào”,…

Trường hợp của đương số mệnh còn ở đất Bệnh, giáp tứ sát: Không, Kiếp, Kình, Đà.
Nhưng rất may mắn vì các yếu tố sau:
+ Đương số mệnh Kim, can Nhâm và mệnh đóng cung Hợi (Thủy) và gia thêm Hóa Kỵ chiếu về. Hóa Kỵ chế sức nóng của Liêm Trinh và cung Mệnh được cách sinh địa. Chỉ riêng yếu tố này đã cứu giải rất nhiều
“Liêm Tham Kỵ đồng hương thì lại
Cũng ấm no, ít ngại bệnh tai”
+ Cung Mệnh của đương số gặp Tuần, Triệt (chiếu), thêm phần giảm bớt tính xấu của Liêm, Tham và cả những sát tinh ở 2 cung giáp. Tuần ở đây hay hơn Triệt vì Tuần ảnh hưởng lâu dài.
Nhưng bấy nhiêu đây chưa đủ để thành “kỳ cách” mà chỉ là “phản vi” - bớt dữ thêm lành, thêm phần “an”, phần “phú”. “Kỳ Cách” ở các yếu tố sau:
+ Hóa Kỵ gặp Lưu Hà, Thanh Long (cung Quan): Khả năng ngôn ngữ, phê bình, ăn nói lưu loát. Vũ Khúc gặp Kỵ còn cho thấy có kỳ tài hay điểm khác người về suy nghĩ. Thực sự thì đương số quan trọng công việc hơn gia đình, hiện tại không muốn kết hôn.
+ Đương số mệnh Kim nên chịu ảnh hưởng của bộ Vũ Khúc, Thất Sát, Phá Quân nhiều hơn Liêm - Tham. Mệnh đương số có Tham Lang, Linh Tinh đó là 2 sao chỉ sự ham muốn quyền lực, truy cầu công danh. Thật may là cung Tài trong tam hợp mệnh của đương số có Hóa Quyền - bản thân nỗ lực học tập, truy cầu công danh thành công. Cung Tài xung chiếu cung Phúc (cung An Thân), cung An Thân rất may mắn (phúc tốt) khi mà ở trong tam hợp Thái Tuế, chính tinh Thiên Tướng hội đủ bộ Binh, Hình, Tướng, Ấn; lại có bộ học hành (Xương, Khúc); bộ đường hoàng, an nhàn (Thai, Tọa); bộ Tam Minh (Đào, Hồng, Hỷ); gia thêm Hóa Quyền. Quan trọng nhất là “Tướng - Ấn” làm mất tính hung của “Tham, Quyền, Hình” – tham vọng quyền hành, vì công danh mà “vấp phạm” (Thiên Hình). “Tướng, Ấn” - “Đương số làm việc ở đâu cũng sẽ giữ vị trí bên cạnh người có cương vị cao”. Yếu tố “Hình” ở đây chính là đương số thay người có cương vị cao làm một số việc có yếu tố quyết định đến người khác hay chính là được trao quyền hành, “Hình” lúc này hoàn toàn công chính.
+ Mệnh cách truy cầu công danh, thêm nữa Đại Vận 14 – 23 tuổi có Thái Âm vượng địa ở đất La - Võng gặp Tuần. Tuần giúp xé lưới La – Võng, thêm Thái Dương chiếu nên thành tích học tập của đương số cao, có thể học trường danh tiếng và đi học xa nhà (Đương số nói là đi du học – do Thái Âm, Thái Dương chiếu). Đại Vận này không dành cho công việc và cũng có những năm tháng khó nhọc phấn đấu (Quan bị Triệt, Mệnh giáp Kình Đà, Thiên thời Đại Vận khắc nhập). Đại Vận 24 trở đi mới là Đại Vận của công việc, đương số có thể làm trong hội sở lớn, công việc ổn định.
Tất nhiên là “kỳ cách” chỉ ức chế, giúp những thứ tưởng là xấu chuyển sang tốt (cũng như biến cái tham vọng, đố kỵ thành sự cố gắng phải đạt bằng được), bản thể cái xấu trong cung mệnh của đương số vẫn còn.

- Về tính cách:
+ Mệnh Liêm - Tham ở đất Tứ Sinh thì rất nhạy bén, thông minh hoạt bát, giao tiếp tốt, xử lý công việc rất trôi chảy (Riêu, Hà), đa tài đa nghệ, giỏi hoạch định; hài hước (Riêu – Y). Khuyết điểm là hiếu thắng, ít biết kiềm chế và một chút đố kỵ.
+ Mệnh đương số có Lộc Tồn, lại đủ các sao của bộ cô độc (Cô – Quả, Đẩu Quân). Những sao này khắc chế Tham Lang làm bản thân đoan chính hơn, tính độc lập cao nhưng tính tình cũng thêm phần đa sầu, đa cảm, tâm tư phức tạp và cô đơn (đương số nói là thích một mình).

- Về gia đình, như đã nói bên trên mệnh đương số cô độc, cung Phụ Mẫu chính tinh là sao Cự Môn ở Tí, các phụ tinh không được đẹp nhưng sát tinh hành hỏa đều bị chế do Cự Môn hành Thủy, đóng ở ô Thủy, thêm một yếu tố tốt là đương số mệnh kim – thuận chiều tương sinh. 2 vầng Thái Dương - Thái Âm tượng cho cha - mẹ, tượng cho đời sống tinh thần - tình cảm lại rất hài hòa. Vậy nên gia đình trung lưu, bố mẹ song toàn, tương đắc, theo nghiệp công chức, có thể xa quê lập nghiệp. Bố mẹ hiền lành, nâng đỡ các con, các con hiếu thuận (Mệnh phi Hóa Lộc nhập Phụ Mẫu). Theo tử vi thì vầng Thái Âm suy hơn Thái Dương có nghĩa mẹ kém tài hơn bố song rất tháo vát, về già sức khỏe của mẹ yếu hơn. Bố mẹ đương số về già đều phải cẩn thận các bệnh về máu huyết (huyết áp).

- Cung Huynh Đệ của đương số tự Hóa Khoa, chính tinh Thái Âm gặp Tuần, Địa Không ở đất La Võng thì gia đình ít anh chị em, phần nhiều là nữ, có thể có anh chị em mất từ trong thai. Các anh chị em đều học hành thành đạt. Như đương số nói là có “1 chị gái”, bố mẹ đều có thể tự hào về 2 chị em. Bản thân đương số sẽ gần gũi hoặc quan tâm bố mẹ nhiều hơn chị, 2 chị em sau này không sống gần nhau.

Trên đây là phân tích về một lá số "phản vi kỳ cách" với cách cục mệnh "Liêm Tham cư Hợi", mong các bạn nghiên cứu Tử Vi có thêm phần nào kinh nghiệm trong việc giải đoán lá số.




Mọi thắc mắc xin gửi về
Facebook: Luận Giải Tử Vi
Email: tuvixuytuyet@gmail.com

Thứ Bảy, 22 tháng 2, 2020

Lập lá số Tử Vi trên bàn tay

By Xuy Tuyet  |  Kinh Nghiệm Tử Vi

Một số bạn gặp tôi xem tử vi, thường thấy tôi bấm trên bàn tay rồi hỏi qua một số vấn đề, năm tiểu vận tiêu biểu đã xảy ra. Các bạn có vẻ ngạc nhiên khi thấy tôi có thể an sao trên bàn tay. Thực ra đó chỉ là cách tôi kiểm nghiệm lại thông tin của đương số, xem có chính xác hay không. Tôi thường lấy qua lá số trên tay với các sao, vòng sao cơ bản. Tất nhiên đó là một kỹ năng được trau dồi của những người nghiên cứu Tử Vi có căn bản. Nghĩa là như thế nào ? Đó chính là học Tử Vi phải học từ cách an sao. Càng tìm tòi, hiểu rõ cách an sao bao nhiêu thì luận đoán càng dễ dàng bấy nhiêu và thậm chí còn có những phát hiện ít người để ý. Nhiều sách Tử Vi viết về cách lập lá số khá chi tiết nhưng phần dạy an sao trên bàn tay vẫn chưa được rõ ràng, hiện nay lại có sự trợ giúp của phần mềm máy tính nên việc lập lá số như thế nào cho nhanh, cho đúng không còn quan trọng. Người học Tử Vi bây giờ chỉ thích lấy phần ngọn, tức là làm sao xem được cho nhanh, xem được cho mình. Thậm chí có rất nhiều người nhận là “thầy Tử Vi” nhưng lại không nhớ cách an sao. Tôi xin chia sẻ một số kinh nghiệm cơ bản trong việc lập lá số cho các bạn mới học bộ môn Tử Vi và xác định là sẽ nghiên cứu nghiêm túc bộ môn này.
2 vấn đề khó nhớ trong cách an sao trên lá số Tử Vi



Thứ Sáu, 31 tháng 1, 2020

Cách tìm bản mệnh nhanh

By Xuy Tuyet  |  Kinh Nghiệm Tử Vi

Cách bấm trên bàn tay

Trước hết, các bạn cần phải thuộc quy ước sau


Thứ đến thuộc bốn câu thơ:
“Tý, Ngọ: Ngân - Đăng - Giá - Bích - Câu
Thìn,Tuất: Yên - Mãn - Tự - Chung - Lâu
Dần, Thân: Hán - Địa - Thiên - Sài - Thấp
Lục giáp luân lưu bất ngoại cầu”

 Với 4 câu trên, ta không cần để ý tới nghĩa của những từ thuần Hán (in nét đậm), bởi nghĩa của chúng không liên quan tới phương pháp tính. Điều cần chú ý ở đây là nhận rõ nét của từng con chữ để biết chúng thuộc bộ nào.


Ví dụ: Ngân bộ Kim, Đăng bộ Hỏa…

Tý, Ngọ: Ngân (Kim); Đăng (Hỏa); Giá (Mộc); Bích (Thổ); Câu (Kim)
Tuất, Thìn: Yên (Hỏa); Mãn (Thủy); Tự (Thổ); Chung (Kim); Lâu (Mộc)
Dần, Thân: Hán (Thủy); Địa (Thổ); Thiên (Hỏa); Sài (Mộc); Thấp (Thủy)


Nhận mặt chữ tìm ra ẩn ý, ví như Thiên là hỏa sẽ là 2 nạp âm Tích Lịch Hỏa và Thiên Thượng Hỏa (đều là Hỏa thuộc về trời). Như đây, ta hiểu được chủ ý của 4 câu thơ về cách tìm “Ngũ hành sở thuộc Lục thập hoa giáp”        
   

Sáu giáp, mỗi giáp 10 hoa. Lần lượt các giáp là Giáp Tý, Giáp Tuất, Giáp Thân, Giáp Ngọ, Giáp Thìn, Giáp Dần. Trở lại Giáp Tý… tiếp nối vòng sau.

Muốn tìm hành của một Hoa Giáp, ta xem hoa giáp ấy khởi Giáp từ chi nào (thuộc vòng nào)
Ví dụ:

Bính Dần, Đinh Mão…Giáp khởi từ Tý -> Giáp Tý;
Canh Thân, Tân Dậu… Giáp khởi từ Dần -> Giáp Dần;.v..v..
Rồi bắt đầu từ cung khởi giáp, lần lượt  “đánh lên mỗi cặp”, 1 dương 1 âm, hai “Hoa” liền nhau, một chữ của câu tương ứng.

Như khởi đầu từ Tý (vòng Giáp Tý): Giáp Tý, Ất Sửu: chữ “Ngân” thuộc Kim;
Bính Dần, Đinh Mão: chữ “Đăng” thuộc Hỏa.
Mậu Thìn, Kỷ Tỵ: chữ “Giá” thuộc Mộc;
Canh Ngọ, Tân Mùi: chữ “Bích” thuộc Thổ;
Nhâm Thân, Quí Dậu: chữ “Câu” thuộc Kim;
Rồi tới: Giáp Tuất, Ất Hợi: chữ “Yên” thuộc Hỏa;
Bính Tý, Đinh Sửu: chữ “Mãn” thuộc Thủy; …Cứ thế mà suy


Ví dụ: muốn tìm năm Nhâm Tí thuộc mệnh gì, ta xem năm Nhâm Tý thuộc vòng nào bằng cách đặt ngón cái vào ô Tý trên tay, đọc ô đó là Giáp, đếm ngược chiều kim đồng hồ mỗi ô 1 chữ hàng can (Giáp, Ất, Bính). Đến Nhâm thì dừng lại ở ô Thìn. Vậy năm Nhâm Tý thuộc vòng Giáp Thìn. Ta đọc câu “Yên - Mãn - Tự - Chung – Lâu” cứ 1 chữ 2 ô, đếm theo chiều thuận đến ô Tý sẽ dừng lại ở chữ Lâu (Mộc). Vậy người sinh năm Nhâm Tý mệnh Mộc, cụ thể là Tang Đố Mộc (gỗ cây dâu).

Facebook: Luận Giải Tử Vi
Email: tuvixuytuyet@gmail.com

Thứ Bảy, 2 tháng 2, 2019

Cách cục lá số tù tội

By Xuy Tuyet  |  Kinh Nghiệm Tử Vi

Tôi thấy rất nhiều diễn đàn bàn luận về các lá số tù tội, người thì cho là tại sao Quan Phủ, Quan Phù hoặc Kình, Tuế, Hình, Đà, Kỵ liên quan đến Mệnh, Thân, Tật rồi có người lại vơ cả ông Thiên Không vào. Tôi đã từng xem rất nhiều lá số hình tù, án dài, án ngắn đủ cả, có những người tìm đến tôi từ khi họ chưa vào tù. Tôi muốn chia sẻ một số vấn đề với các bạn nghiên cứu Tử Vi như sau

Các sao chỉ ách cơm cân, áo số hay còn gọi là hình tinh gồm có: Quan Phủ thứ nhất, kế đến Thiên Hình và cuối cùng là Thái Tuế (khẩu thiệt, miệng tiếng)
Đây là 3 sao chính cho hạn tù tội, tất nhiên không thể thiếu những sao cho thêm phần éo le khác như hệ chính tinh Sát – Phá – Tham hay Tang, Hổ ; Kiếp, Không; Cự, Kỵ; các sao chỉ tính cách,… Luận đoán 1 lá số cần phải linh hoạt nhưng linh hoạt không có nghĩa là “gọt chân cho vừa giày”. Về hạn tù tội, có người đi tù ở một số năm tiểu vận, có người đi ở Đại Vận, cũng có người vì chuyện không đâu mà bị tù. Những người phạm tội không chủ ý (tai bay vạ gió) thường tù ở vận còn những người phạm tội có chủ ý thì các cung mệnh, tài, quan, thân sẽ thể hiện khá rõ

1. Thiên Hình

Hành hỏa, đắc địa ở Dần, Tuất; vượng địa ở Mão, Dậu.
Thiên Hình ở mệnh mà đắc địa thì như thanh kiếm, khôn ngoan, tài năng, ngay thẳng, không ưa sự bất công, bề ngoài có nét nghiêm túc, mô phạm. Nếu hãm địa thì như con dao, bị hình ngục, thị phi. Dẫu đắc hay hãm thì Thiên Hình vẫn chế được tính hoa nguyệt của Tham, Đào, Hồng, Riêu. Thiên Hình tốt nhất ở Dần, kế đến là ở Tuất (như Hỉ Thần thứ 2) nhưng đừng nghĩ Thiên Hình ở các vị trí này sẽ không bị tù đày. Nếu hội đủ các sao xấu hay bị phá cách thì vẫn vào tù như thường, chỉ là tù có lâu hay không thôi.
Mệnh có Thiên Hình, Thiên Mã mà lại gặp Thiên Khốc hoặc Thiên Hư thì dẫu Thiên Hình đắc địa cũng rất gian nan trên đường công danh. Hình, Tham, Liêm thì tù tội (ở cung Quan, cung Tật cũng vậy nếu không có sao cứu giải). Hình, Sát, Kình tuy anh hùng nhưng cũng là cách hung.
Trường hợp vào vận: Hình, Quan Phủ dễ bị kiện tụng gặp Không, Kiếp thì khó tránh bị người thù ghét, hãm hại, thưa kiện. Hình gặp Tuế thì khẩu thiệt.

2. Quan Phủ

Quan Phủ là gian tinh. Hành hỏa, hãm ở Tí, Hợi
Cái tốt của Quan Phủ là tinh minh, giỏi xét đoán, lý luận, có tinh thần ganh đua; cái xấu chính là cố oán, thù hằn, câu chấp, đố kỵ.
Nếu vận xấu mà thấy Quan Phủ, Bạch Hổ; Quan Phủ, Không, Kiếp; Quan Phủ, Thái Tuế, Kình Dương hay Quan Phủ, Phá Quân, Thiên Hình mà Đại, Tiểu Vận, LN. Đại Vận ở thế đặc biệt, lại không có các bộ sao cứu giải thì cái ách tù ngục đáng lo lắm nhất là khi ở cung Tuyệt, cung Suy.

3. Ví dụ trên một vài lá số.

Tôi sẽ công khai danh tính của những người này. Các lá số, thông tin đều hoàn toàn chính xác.

3.1. Lá số của giám đốc ngân hàng lãnh án chung thân




Đương số tên Lê Quý Hiển, sinh ngày 12/12/1977 DL (giờ dần). Qua lá số có thể thấy người này tư chất tốt, thông minh, mệnh thuộc hệ Sát – Phá – Tham. Thân cư Quan có Tướng, Ấn nhưng lại bị Triệt, cung Tài có Thiên Không, Thiên Giải. Người này sinh trong gia đình bố mẹ là công chức, học hành khá, đã từng học cấp 3 hệ chuyên toán (ĐH Sư Phạm), học ĐH Kinh Tế Quốc Dân, đi làm đến năm 2010 thì được bổ nhiệm làm giám đốc 1 chi nhánh của ngân hàng HDBank. Có thể thấy Đại Vận 24 –  33 tuổi mọi thứ khá thuận lợi. Sang đến vận 34 – 43 tuổi, vận này vô chính diệu hội đủ Quan Phủ, Kình Dương, Kiếp, Tang, Hổ, Khốc, Hư và nhất là Hình - Kỵ. Năm 2012 đương số bị truy nã (tháng 7 âm lịch), lẩn trốn trong khu vực các nước Đông Dương. Năm 2014 bị bắt, năm 2018 ra xét xử bị tuyên án chung thân. Đương Số Mệnh Không, Hồng, Đào có duyên nghiệp tu hành.


3.2. Lá số của Giám đốc công ty may lãnh án 17 năm tù




Đương số tên Nguyễn Cự Tẩm, sinh ngày 09/11/1957 DL (giờ Dậu), là giám đốc công ty may Haprosimex, bị bắt ngày 07/7/2017, đến năm 2018 ra xét xử bị tuyên phạt 17 năm cho 2 tội “Tham ô tài sản” và “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ". Lá số Mệnh Thiên Tướng giáp Cự - Kỵ (đồng thời cũng là nhị hợp) vào cách "Hình Kỵ giáp Ấn" (Cự Môn Hóa Kỵ, Thiên Lương hình biến chi tinh); thêm Kình Dương xung; tam hợp mệnh lại đủ Quan Phù, Bạch Hổ, Thiên Hình. Ngay cả khi đương chức, đương số cũng thường xuyên vướng mắc quan tụng, hiện đương số đã lớn tuổi nên tôi xin không bình giải lá số này.


3.3. Lá số của cán bộ công an quận lãnh án 18 năm tù





Đương số tên Đoàn Hải Nam, sinh ngày 19/07/1987 DL (giờ Tuất) trong một gia đình khá giả có tiếng ở tỉnh Thái Nguyên và là con trai duy nhất, đã từng là công an kinh tế quận Hoàng Mai (Hà Nội). Bản chất con người không xấu. Năm 2017 bị bắt vì mua bán trái phép chất ma túy, năm 2018 ra xét xử bị tuyên phạt 18 năm tù. Đương số mệnh Phá - Liêm tại Dậu (to nhỏ khác thường), Không - Kiếp chiếu mệnh. Đại Vận 25 – 34 Tuổi là Đại Vận vô chính diệu hội đủ Quan Phủ, Bạch Hổ, Kình, Tuế. Đại Vận 35 – 43 tuổi cũng là Đại Vận vô chính diệu.


 Đến đây tôi xin dừng lại bài viết về các lá số tù tội, mong quý anh chị có thể rút ra thêm những kinh nghiệm trong việc giải đoán Tử Vi. Quý anh chị mõm vẩu nào trích lại bài của tôi thì nhớ ghi nguồn.

Thầy bói mõm vẩu:

Facebook: Luận Giải Tử Vi
Email: tuvixuytuyet@gmail.com

Thứ Bảy, 25 tháng 6, 2016

Tử Vi có đúng không ? có chính xác không ?

By Xuy Tuyet  |  Kinh Nghiệm Tử Vi
Đây là câu hỏi mà hầu như tất cả những người biết đến tử vi, băn khoăn về số mệnh đều đặt ra. Tử Vi từ lâu được cho là có độ tín nhiệm cao nhất trong các môn khoa học huyền bí phương Đông. Nó chi tiết, cơ sở luận đoán rộng hơn Tử Bình, Bốc quẻ,... và không đơn giản là quan sát đại chúng như xem tướng. Mấy trò đồng cô, bóng cậu thì không cần phải nói đến làm gì. Tôi đã có thời gian tiếp xúc với nhiều thầy bùa vùng cao hay bên đất Cam, Lào, thấy rất nhiều thứ chỉ là tin đồn qua các bài báo, lời kể. Khi tiếp xúc với những người mê tín, dị đoan, "thánh cho ăn lộc" trong nước thì đều thấy họ thích nói dối, thổi phồng khả năng, có thể nói là tào lao. Nhưng thôi, một phần do số phận họ như vậy. (Có thời gian tôi sẽ viết một bài về những người "làm việc nhà thánh" dưới góc nhìn Tử Vi - Những người bất hạnh chịu ảnh hưởng mạnh của bộ Riêu - Y). Số đông dễ bị ảnh hưởng bởi tin đồn, có xu hướng tôn sùng, thích những điều họ không biết rõ, mờ mịt, thêm việc lười suy nghĩ, kiến thức có hạn nên đôi khi mù quáng, ngốc nghếch.

Trở lại với câu hỏi, tôi xin trả lời: Tử vi đúng nhưng không chính xác. Chúng ta cũng không nên đòi hỏi sự chính xác ở 1 bộ môn mang tính dự đoán.

Cá nhân mỗi người có thể được coi là một chủ thể chịu nhiều tác động, khi đã xuất hiện trên đời thì ai cũng nằm trong sự tương tác giữa bản thân, gia đình, xã hội. Sự tương tác đó hình thành nên hoàn cảnh, cá tính, các quyết định, bước ngoặt trong cuộc đời. 12 cung của 1 lá số Tử Vi chính là sự dung hoà 3 yếu tố: bản thân, gia đình, xã hội bằng cách áp dụng dịch học, lấy sự tổng quát, chi phối để đưa ra các câu trả lời, mô tả phần nào chi tiết cuộc đời một con người; lấy cái vô hình có quy ước để lý giải cho cái hiện hữu, tồn tại hoặc khả năng xảy ra lớn. Tại sao lại sắp xếp thứ tự của 12 cung trên địa bàn lá số, có sự thuận nghịch, phân ra âm dương rõ ràng của các cung số ? Hiểu được điều này thì sẽ thấy được sự tương tác giữa bản thân, gia đình, xã hội mà dịch học đã thông qua lá số Tử Vi để mô tả; đồng thời biết được vì sao Tử Vi không còn đúng với những người tu hành,... Một người tò mò, tập tành nghiên cứu Tử Vi mà không có kiến thức dịch học sẽ dẫn đến mơ hồ, càng nghiên cứu thì càng thêm rối, không thể lý giải, hiểu được sự tương tác; họ cho rằng nó phải thế, mặc định là như vậy nên không thể đưa ra được các quyết định chính xác cho cuộc đời mình chứ chưa nói đến người khác. Tôi nói vậy không phải có ý phê phán các cuốn sách xem Tử Vi viết theo kiểu mì ăn liền, dễ dàng tìm kiếm ở hàng sách vỉa hè hay trên internet. Các bạn có thể coi đó là những cuốn sách tham khảo cho vui nhưng luôn phải nhớ đến 2 từ "sáng suốt". Tôi cũng không có ý coi thường các tác giả viết sách bởi chính tôi cũng phải học hỏi qua những cuốn sách nhưng tôi biết mình nên tìm học cái gì, có những cuốn sách hay nhưng sẽ là khó đọc như: Tử Vi nghiệm lý của cụ Thiên Lương,... Nếu cho tôi viết sách Tử Vi, tôi cũng không tự tin mình có thể viết ra được tất cả những gì hiểu biết, nó không phải là một mớ hỗn độn nhưng viết hết thực sự khó, còn lược bỏ đi - tức bỏ gốc lấy ngọn thì lại thành món mì ăn liền. Tôi biết một người nghiên cứu Tử Vi đã lớn tuổi, cũng có một blog khá nổi nhưng kiến thức tử vi bác ấy viết ra có thể hình dung như: Người ta yêu thích một món ăn rồi tìm hiểu xem nguyên liệu tạo nên nó là gì, đặc tính ra sao, cách nấu như thế nào. Đáng tiếc là khó mà tìm ra được cách nấu chúng để có được hương vị ngon nhất.

Trong Tử Vi có nhiều luận đoán thuộc về hiệu ứng Barnum - tức mô tả tổng quát, tương quan ảo - có tồn tại,... Bất kỳ ai biết tâm lý học hay nghiên cứu về xã hội cũng có thể nhận ra điều này. Tử Vi là môn nghiên cứu số mệnh thì phạm những điều đó cũng không có gì lạ, nhưng đừng vội phủ định tất cả những gì thuộc về Tử Vi. Có những thứ Tử Vi cho biết chính xác hơn bất kỳ nghiên cứu hiện đại nào, ví dụ như: Tính cách, bệnh lý, ... Nó còn có thể cho biết những thứ mà khoa học hiện đại không thể biết. Tất nhiên, giữa đúng và chính xác còn có khoảng cách. Người biết áp dụng Tử Vi không cần phải giỏi Tử Vi mà là biết cái gì phù hợp với bản thân, biết vận nào nên tiến, vận nào nên lui, biết thời vận để đưa ra các quyết định có lợi cho mình, tránh triệt để cái xấu do yếu tố chủ quan; hạn chế những điều không mong muốn do yếu tố khách quan.




Thực tế, có những người u mê với Tử Vi thường hay tìm cách "gọt chân cho vừa giày" trong luận đoán. Họ sẽ mãi mơ hồ, khó có thể tìm ra hướng đi đúng đắn cho cuộc đời mình, đừng nói đến việc lần mò số phận người khác. Nhiều người cho rằng chỉ cần nhìn vào lá số Tử Vi là có thể biết mọi việc trong quá khứ và tương lai. Đó là một quan niệm sai lầm, đề cao quá đáng vai trò của Tử Vi, gán cho nó một giá trị lớn quá tầm vóc vốn có - chính là nghiên cứu nhân học.
Tôi luôn khuyên những người lệ thuộc vào số mệnh mà không biết Tử Vi hãy sáng suốt, đừng tin lời thầy bói, hãy cho bản thân được phép quyết định, nhiều khi thuận theo tự nhiên mới là điều tốt nhất.

Bắc Ninh, ngày 30 tháng 4 năm 2016

Thứ Tư, 24 tháng 2, 2016

Lá số của một nhà thơ trẻ có cách Dương Lương Xương Khúc

By Xuy Tuyet  |  Kinh Nghiệm Tử Vi
                     



Tôi bình giải qua lá số để thấy được tầm quan trọng của mệnh và thân trong việc xét đoán vận hạn

- Cung mệnh của lá số trên có cách "Dương Lương Xương Khúc, lư truyền đệ nhất danh", thân cư Phúc có Lộc Tồn, cung Tài có Thái Âm ở Hợi bị Tuần. Đây là kết cấu sao có lợi về thi cử, Thái Dương hoá giải tính "cô" của Thiên Lương, tính nguyên tắc khô cứng của Thiên Lương được nhuyễn hoá thành nguyên tắc trong học thuật. Ở xã hội hiện đại, tinh hệ này có lợi trong việc nghiên cứu học thuật, theo cách tự học.

- Cung mệnh, cung di đều không có sát tinh: Người này rất thanh cao, bản chất tốt hiếm thấy. Cung Phu, cung Tử Tức cho thấy chuyện hôn nhân không thuận, cung Thân có Không, Hồng, Đào: Trung Vận có duyên nghiệp tu hành.

- Đào Hoa, Hồng Loan chiếu mệnh thì sớm nổi danh

Thực tế, ở tuổi 20 cô ấy đã có 4 cuốn sách được in. Cô là tác giả của những câu thơ:

" Bỗng ngày nọ người nhìn ta khẽ nói
  Những diệu kỳ nằm ở phía xa khơi
  Chúng mình là tàu bé trong hải cảng
  Ôm mỏ neo nằm mộng những chân trời".

Facebook: Luận Giải Tử Vi
Email: tuvixuytuyet@gmail.com

Áp dụng dịch học, tử vi vào những trò may rủi

By Xuy Tuyet  |  Kinh Nghiệm Tử Vi
Trò may rủi ở đây tôi chỉ tập trung vào những trò chơi mang tính rủi ro cao, gắn với vận đỏ, đen - chính là đổ bác (bài bạc), lô đề.
Nhìn bề ngoài một con người, không thể biết được anh ta thuộc giới đổ bác cho đến khi thấy anh ta vào sòng hay ngồi xuống chiếu bạc; cũng đừng nghĩ rằng kẻ có học, thành công thì không bài bạc, chỉ ít hơn mà thôi.
Tử vi là bộ môn nghiên cứu về số mệnh con người. Thực sự, điểm mạnh, chính xác nhất của nó là chỉ ra tính cách. Tử vi có thể cho biết một người có ham mê bài bạc hay không hoặc chơi trong khoảng thời gian nào chỉ cần thông qua lá số.

Đam mê cờ bạc không thể thiếu bại tinh Điếu Khách (hoả), mặt tiêu cực của nó là du đãng, dông dài, khoác lác, khinh người, ... Tất nhiên, tuỳ vị thế mà luận nhưng 10 người có điếu khách ở mệnh thì cả 10 người đều có tật khoác lác, nói năng không cẩn trọng. Có phải vì thế mà hầu hết những anh cờ bạc đều nói hay và thường vay không trả ? Không phải vậy, Điếu Khách mà gặp Liêm Trinh, Thiên Hình thì lại ra kẻ chơi hết tiền thì thôi, không vay mượn và hầu như rất sòng phẳng. Kẻ có Điếu Khách chưa chắc đã lọc lừa, xảo quyệt, "đức tính" ấy là mặt tiêu cực của Đà La (Kim). Điếu Khách sẽ lộ rõ bản chất bài bạc khi có thêm ảnh hưởng tiêu cực của các sao:
- Tham Lang: hám lợi
- Xương - Khúc: Bay bổng, mơ mộng
- Hoá Kỵ: Hao tán, trở ngại
- Riêu, y: U mê
- Quan Phù: Ham ăn thua (tinh thần gỡ gạc)
- Song Hao: Xoay xở, hao tán
- Đà La: Xảo trá
- Hoả, Linh: Trong trò may rủi, nó có thể tượng trưng cho cổ phiếu

Tuỳ cách cục cho thấy mức độ ham mê đổ bác khác nhau. Có người chỉ chơi trong vận (Khách, Riêu, Y, Hao), cũng có kẻ cả đời gắn với bài bạc hay có thể kiếm sống bằng bài bạc.

Bắt đầu vào việc áp dụng tử vi vào những trò may rủi. Nếu bạn chưa biết gì về tử vi thì dừng lại, hãy tìm đọc bài về Đại - Tiểu vận, nguyệt vận, nhật vận mà tôi đã viết nếu muốn "làm giàu không khó". Nói vui vậy thôi, thật khó để nói hết những kiến thức cơ bản, trong giới hạn bài viết tôi chỉ nói cách áp dụng. Vậy nên, bạn không cần biết cách lập lá số nhưng phải biết được những thuật ngữ mà tôi nhắc đến trong bài.

Một Đại vận tốt, tức là được cả thiên thời, địa lợi, nhân hoà thì chắc chắn vận may sẽ đến với ta nhiều hơn. Yếu tố tốt nhất chính là thiên thời, chỉ cần được thiên thời là vận khá rồi. Tiểu vận tốt về tiền bạc, tức là cung tiểu vận trên lá số tốt, có sao lộc như Hoá Lộc, Lộc Tồn, ít các sao chủ về hao tán; thêm nữa, can chi, ngũ hành của năm hiện tại tốt đối với ta thì may mắn cũng sẽ nhiều hơn, việc này phải dựa vào tương quan các yếu tố trong giờ, ngày, năm sinh của bản thân để đánh giá với năm hiện tại. Đó chính là yếu tố về vận may thuộc Đại - Tiểu vận. Thế nhưng, kẻ ham mê bài bạc hầu hết không cần quan tâm đến các yếu tố này, chúng có thể chơi từ năm này qua năm khác. Khi không có các yếu tố trên, vẫn có thể chọn ra tháng tốt, ngày tốt, kết hợp giờ chơi, phong thuỷ, nhưng khó có thể thắng lớn.
Về cách xem nguyệt vận (tháng): Xem cung nguyệt vận trên lá số như cách xem thiên thời đối với đại vận, nếu tam hợp nguyệt vận đồng hành hoặc sinh cho tam hợp tuổi, đó là một yếu tố tốt. Kế đến, xem sao tại cung nguyệt vận, nếu xuất hiện Phá Quân, song Hao, ... - Các hao tinh, bại tinh hãm địa thì không nên chơi. Nếu thấy Song Hao đắc địa thì tốt nhưng nên chơi biết điểm dừng. Sao tốt nhất cho trò may rủi là Lộc Tồn (Thổ). Sau cùng, xét can chi, ngũ hành của tháng đối với bản thân, cách xét như xem năm hiện tại đã nói trong phần xem tiểu vận bên trên.
Về cách xem nhật vận (ngày), thời vận (giờ): Xem cung nhật vận trên lá số tương tự xem nguyệt vận. Sau đó là xem ngày nào tốt với bản thân, giờ nào tốt, có thể sinh tài lộc.

Như vậy, chọn ra một ngày, giờ càng nhiều yếu tố tốt thì càng thêm phần vận may.
Ngoài ra, vận may còn đến từ cách ăn mặc, giờ xuất phát, vật mang theo, người đi cùng, vị trí ngồi chơi, ... Thực tế, có những tay cờ bạc chuyên nghiệp khi đi chơi ăn mặc rất phép tắc, mang theo những vật như là bùa may mắn, ấn định giờ chơi, chọn vị trí ngồi chơi tốt nhất có thể, thậm chí còn kén chọn kẻ ngồi chung chiếu bạc với mình. Con người nên nằm ngủ theo hướng mà xét ngũ hành trùng với mệnh của mình, khi chơi bài muốn thêm phần may mắn thì cũng như vậy.

Có người còn áp dụng thuyết tam tài, gieo quẻ dịch cùng nhiều cách xem, phương pháp bổ trợ nhằm thêm may, bớt rủi.

Thực tế chứng minh dịch học trong cuộc sống hiện đại, hay bất kể việc gì cũng đều phát huy mặt tích cực của nó, đem lại lợi ích nếu biết áp dụng đúng cách. Thế nhưng, với những trò chơi mang tính sát phạt, người nghiên cứu dịch học chuyên sâu khó lòng chấp nhận bởi chúng ảnh hưởng đến chữ "hoà".

Bài viết không cổ vũ cho bài bạc, nên nhớ: "Tiền cờ bạc gác ngọn tre".

Các khái niệm cơ bản về vận và cách xem Đại vận

By Xuy Tuyet  |  Kinh Nghiệm Tử Vi
Phần 1: Các khái niệm cơ bản

1. Đại vận (đại hạn)

Thời gian cuộc đời chia ra từng khoảng 10 năm gọi là đại vận, ứng với từng cung trên lá số (khi xem phải kết hợp thêm cung xung chiếu và cung tam hợp). Để xác định đại vận trên một lá số, ta làm như sau:
- Ghi số cục tại cung an mệnh (ứng với tuổi khởi đầu đại hạn)
- Dương nam, âm nữ theo chiều thuận; âm nam,dương nữ theo chiều nghịch, lần lượt ghi số tiếp theo, từ cung này sang cung khác cộng thêm 10 (Cách ghi dựa theo thuyết âm dương trong kinh dịch)

2. Tiểu vận (tiểu hạn)

Tiểu vận là vận hạn trong 1 năm, mỗi năm ăn vào 1 cung chính và 3 cung chiếu. Cách tính tiểu vận như sau:
- Nếu năm sinh là Dần, Ngọ , Tuất thì đề tên năm sinh vào cung Thìn
- Nếu năm sinh là Thìn, Thân, Tý thì đề tên năm sinh vào cung Tuất
- Nếu năm sinh là Hợi, Mão, Mùi thì đề tên năm sinh vào cung Sửu
- Nếu năm sinh là Tỵ, Sửu, Dậu thì đề tên năm sinh vào cung Mùi

Rồi từ cung đề năm sinh, ghi các năm theo đúng hàng địa chi, mỗi cung 1 năm, nam theo chiều thuận, nữ theo chiều nghịch.

3. Lưu đại vận (lưu đại hạn)

Cung Mệnh, Cung Thân, Cung Phúc như nền tảng 1 lá số.
Đại vận là nền tảng 10 năm cuộc đời.
Tiểu vận cho biết thêm những biến cố trong một năm.
Lưu đại vận cho biết hướng của vận hạn trong 1 năm.


- Ví dụ: 
+ Đại vận cho biết sự phát tài, giàu có nhưng không phải năm nào cũng giàu, chỉ biết trong vòng 10 năm có lúc giàu.
+ Xét tiểu vận có cách sao phát tài, có thể năm đó phát tài nhưng phải xác nhận bằng cung lưu đại vận. Nếu lưu đại vận cũng báo dồi dào, thịnh vượng thì năm đó được giàu có. Nếu lưu đại vận cho biết sự hao tán thì phát tài chỉ ở mức nhỏ, có thể vừa phát vừa tán.

Cách tính lưu đại vận:
- Dương nam, âm nữ:
+ Lưu đại vận năm đầu của đại vận chính là cung gốc đại vận.
+ Lưu đại vận năm thứ 2 của đại vận: là cung xung chiếu với cung gốc đại vận.
+ Lưu đại vận năm thứ 3 của đại vận: là cung kế theo chiều nghịch của cung vừa tính.
+ Lưu đại vận năm thứ 4 của đại vận: trở về cung xung chiếu với cung gốc đại vận.
+ Lưu đại vận năm thứ 5 của đại vận: là cung kế theo chiều thuận của cung vừa tính, cứ theo chiều thuận tính tiếp lưu đại vận các năm còn lại.

- Âm nam, dương nữ:
Như trên, nhưng sau khi lấy cung xung chiếu cho lưu đại vận năm thứ 2, chuyển sang 1 cung theo chiều thuận cho năm thứ 3, rồi mới đi lại theo chiều nghịch.

• Chú ý:
Chiều thuận, nghịch như chiều quay của kim đồng hồ. Địa bàn lá số thực ra mang hình tròn nhưng để dễ biểu diễn trên giấy nên đã chuyển thành hình vuông.

4. Nguyệt vận (Nguyệt hạn)

Nguyệt vận là hạn tháng, khi tính sẽ có sự sai lệch.

Cách tính phổ biến:
Tính nguyệt vận năm nào ta bắt đầu từ cung tiểu vận năm đó, coi cung này là tháng giêng, đếm theo chiều nghịch đến tháng sinh; ngừng lại ở cung nào coi cung ấy là giờ tý, rồi đếm theo chiều thuận đến giờ sinh, ngừng lại ở cung nào, chính là cung tháng giêng, lần lượt theo chiều thuận, đếm tháng 2, tháng 3, ... mỗi cung là 1 tháng.

5. Nhật vận (hạn ngày)

Sau khi đã biết nguyệt hạn của tháng định xem ở cung nào, bắt đầu từ cung đó là mồng một, lần lượt đếm theo chiều thuận đến mồng 2, mồng 3, ... mỗi cung là 1 ngày.

6. Thời vận (hạn giờ)

Sau khi đã biết nhật hạn của ngày định xem ở cung nào, bắt đầu từ cung đó là giờ Tý, lần lượt đếm theo chiều thuận đến giờ Sửu, giờ Dần, giờ Mão,... mỗi cung là một giờ theo hàng chi.

7.  Ví dụ trên lá số
                                 
                Các khái niệm cơ bản về vận và cách xem Đại vận

Chủ Nhật, 1 tháng 3, 2015

Luận về ngũ hành nạp âm, cách tìm bản mệnh

By Xuy Tuyet  |  Kinh Nghiệm Tử Vi
1. Ngũ hành 
Theo triết học cổ Trung Hoa, vạn vật đều sinh từ năm nguyên tố Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ.
Kim ứng với màu trắng
Mộc ứng với màu xanh
Thủy ứng với màu đen
Hỏa ứng với màu đỏ
Thổ ứng với màu vàng

Chúng không phải vật chất như cách hiểu đơn giản theo nghĩa đen trong tên gọi mà là cách quy ước của người Trung Hoa cổ đại để xem xét mối tương tác và quan hệ của vạn vật. Mỗi người chúng ta đều chịu ảnh hưởng của những yếu tố này không ít, để hiểu tại sao ta phải phân tích trên nhiều mặt. Chúng ta hãy coi nó như những mệnh đề được thừa nhận mang tính tương đối, cũng như việc tiền nhân đã nghiên cứu ra khoa Tử Vi ứng nghiệm đến 90% những gì xảy ra trong đời 1 con người.

Học thuyết ngũ hành diễn giải sự sinh hóa của vạn vật qua 2 nguyên lý cơ bản: Tương sinh và tương khắc.
- Trong mối quan hệ tương sinh: Mộc sinh hỏa, Hỏa sinh Thổ, Thổ sinh Kim, Kim sinh Thủy, Thủy sinh Mộc.
- Trong mối quan hệ tương khắc: Mộc khắc thổ, Thổ khắc Thủy, Thủy khắc Hỏa, Hỏa khắc Kim, Kim khắc Mộc.
Một số học giả trong quá trình nghiên cứu lại bổ sung thêm mối quan hệ chế hóa, bổ - tả thực chất là suy diễn từ 2 nguyên lý cơ bản trên.



Theo tôi, sự tương sinh, tương khắc không tồn tại độc lập với nhau. Trong tương khắc luôn có mầm mống của tương sinh, trong tương sinh có mầm mống của tương khắc. Vạn vật luôn tồn tại và phát triển.

2. Ngũ hành nạp âm:
Ngũ Hành Nạp Âm Là Gì?
Tuổi Giáp Tý nếu tách rời can chi ra thì Giáp là Dương Mộc và Tý là Dương Thủy. Tuổi Ất Sửu tách rời can chi ra thì Ất là Âm Mộc còn Sửu là Âm Thổ. Gom hai tuổi Giáp Tý, Ất Sửu nạp Âm thành Hải Trung Kim. Vậy Hải Trung Kim là cái tên nạp âm cho tuổi Giáp Tý, Ất Sửu hay người ta còn gọi Hải Trung Kim là mệnh của những người sinh năm giáp Tý, Ất Sửu.
Một vòng từ Giáp Tý đến Quí Hợi có 60 năm. Mỗi 10 năm lại có một chữ Giáp đứng đầu. Ví dụ...Giáp Tí, Giáp Tuất, Giáp Thân, Giáp Ngọ, Giáp Thìn, Giáp Dần gọi bằng Lục Thập Hoa Giáp chia làm 30 tổ Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ - mỗi 2 năm một tổ. Ngũ hành Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ qua nạp âm để định từng tính chất khác nhau giữa các tuổi

Cách tính đơn giản để biết ngũ hành ứng với năm sinh. Tôi sẽ viết một cách đơn giản nhất để các bạn dễ hiểu.

2.1. Cách bấm trên bàn tay

Trước hết, các bạn cần phải thuộc quy ước sau




Thứ đến thuộc bốn câu thơ:
“Tý, Ngọ: Ngân - Đăng - Giá - Bích - Câu
Thìn,Tuất: Yên - Mãn - Tự - Chung - Lâu
Dần, Thân: Hán - Địa - Thiên - Sài - Thấp
Lục giáp luân lưu bất ngoại cầu”

 Với 4 câu trên, ta không cần để ý tới nghĩa của những từ thuần Hán (in nét đậm), bởi nghĩa của chúng không liên quan tới phương pháp tính. Điều cần chú ý ở đây là nhận rõ nét của từng con chữ để biết chúng thuộc bộ nào.


Ví dụ: Ngân bộ Kim, Đăng bộ Hỏa…

Tý, Ngọ: Ngân (Kim); Đăng (Hỏa); Giá (Mộc); Bích (Thổ); Câu (Kim)
Tuất, Thìn: Yên (Hỏa); Mãn (Thủy); Tự (Thổ); Chung (Kim); Lâu (Mộc)
Dần, Thân: Hán (Thủy); Địa (Thổ); Thiên (Hỏa); Sài (Mộc); Thấp (Thủy)


Nhận mặt chữ tìm ra ẩn ý, ví như Thiên là hỏa sẽ là 2 nạp âm Tích Lịch Hỏa và Thiên Thượng Hỏa (đều là Hỏa thuộc về trời). Như đây, ta hiểu được chủ ý của 4 câu thơ về cách tìm “Ngũ hành sở thuộc Lục thập hoa giáp”        
   

Sáu giáp, mỗi giáp 10 hoa. Lần lượt các giáp là Giáp Tý, Giáp Tuất, Giáp Thân, Giáp Ngọ, Giáp Thìn, Giáp Dần. Trở lại Giáp Tý… tiếp nối vòng sau.

Muốn tìm hành của một Hoa Giáp, ta xem hoa giáp ấy khởi Giáp từ chi nào (thuộc vòng nào)
Ví dụ:

Bính Dần, Đinh Mão…Giáp khởi từ Tý -> Giáp Tý;
Canh Thân, Tân Dậu… Giáp khởi từ Dần -> Giáp Dần;.v..v..
Rồi bắt đầu từ cung khởi giáp, lần lượt  “đánh lên mỗi cặp”, 1 dương 1 âm, hai “Hoa” liền nhau, một chữ của câu tương ứng.

Như khởi đầu từ Tý (vòng Giáp Tý): Giáp Tý, Ất Sửu: chữ “Ngân” thuộc Kim;
Bính Dần, Đinh Mão: chữ “Đăng” thuộc Hỏa.
Mậu Thìn, Kỷ Tỵ: chữ “Giá” thuộc Mộc;
Canh Ngọ, Tân Mùi: chữ “Bích” thuộc Thổ;
Nhâm Thân, Quí Dậu: chữ “Câu” thuộc Kim;
Rồi tới: Giáp Tuất, Ất Hợi: chữ “Yên” thuộc Hỏa;
Bính Tý, Đinh Sửu: chữ “Mãn” thuộc Thủy; …Cứ thế mà suy


Ví dụ: muốn tìm năm Nhâm Tí thuộc mệnh gì, ta xem năm Nhâm Tý thuộc vòng nào bằng cách đặt ngón cái vào ô Tý trên tay, đọc ô đó là Giáp, đếm ngược chiều kim đồng hồ mỗi ô 1 chữ hàng can (Giáp, Ất, Bính). Đến Nhâm thì dừng lại ở ô Thìn. Vậy năm Nhâm Tý thuộc vòng Giáp Thìn. Ta đọc câu “Yên - Mãn - Tự - Chung – Lâu” cứ 1 chữ 2 ô, đếm theo chiều thuận đến ô Tý sẽ dừng lại ở chữ Lâu (Mộc). Vậy người sinh năm Nhâm Tý mệnh Mộc, cụ thể là Tang Đố Mộc (gỗ cây dâu).

2.2.    Cách quy ước.

Đặt hàng Can của năm như sau:

Giáp, Ất = 1

Bính, Đinh = 2

Mậu, Kỷ = 3

Canh, Tân= 4

Nhâm, Quý = 5

(Đây là gộp hai hàng Can liền nhau, đặt bằng 1 số)

Tiếp theo là chi của năm

Tý, Sửu, Ngọ, Mùi = 0
Dần, Mão, Thân, Dậu = 1
Thìn, Tị, Tuất, Hợi = 2
(Tổ hợp 2 cặp địa chi xung nhau Tý xung Ngọ, Sửu xung Mùi...)

Tôi đặt tiếp:

Kim = 1, Thủy = 2, Hỏa =3, Thổ = 4, Mộc = 5.

Sau đây là cách tính: 

Tìm ngũ hành nạp âm, hoặc mệnh của người sinh năm Mậu Ngọ, Ta có: Mậu = 3; Ngọ = 0. Lấy 3 + 0 = 3 được mệnh Hỏa
Tương tự: Người sinh năm Quý Hợi: Quý = 5, Hợi = 2; lấy 5 + 2 = 7; vì 7 lớn hơn 5 nên lấy 7 - 5 = 2 được mệnh Thủy.





(Các bạn cũng có thể tra trong bảng mà tôi đưa ra)




3. Chi tiết và sự sinh khắc:

- Hành Kim:

Kiếm, Sa Kim phong lưỡng ban kim

Mộc mệnh nhược phòng tức khắc hiềm

Ngoại hữu tứ Kim giải kỵ Hỏa

Kiếm sa vô Hỏa bất thành hình.
Giải thích : Đừng nghĩ Hỏa khắc Kim, nếu mệnh là Kiếm Phong Kim và Sa Trung Kim mà hợp cùng người mệnh Hỏa trong hôn nhân, lại tốt đẹp vô cùng.
Kiếm Phong Kim (vàng trong kiếm) và Sa Trung Kim (vàng trong cát), nếu không có lửa (Hỏa) thì không thành vật dụng. Nhưng cả hai khắc với Mộc (Kim khắc Mộc) vì hình kỵ, dù Mộc hao Kim lợi (Kim được khắc xuất, mất phần khắc) nhưng vẫn chịu thế tiền cát hậu hung (trước tốt sau xấu), do Kim chưa tinh chế nên không hại được Mộc vượng, không chém được cây lại thêm tổn hại.
4 hành Kim còn lại là Hải Trung Kim (vàng trong biển), Bạch Lạp Kim (vàng trong sáp), Thoa Xuyến Kim (vàng trang sức) và Kim Bạch Kim (kim loại màu) đều kỵ hành Hỏa.

- Hành Mộc:

Bình Địa Mộc trung chỉ nhất sinh

Bất phùng Kim giả bất năng thành

Ngũ ban biệt Mộc kỵ Kim loại

Nhược ngộ đương nhiên bất đắc sinh
Giải thích : Trong Lục Mộc chỉ có Bình Địa Mộc (cây trên đất) không sợ Kim (Kim khắc Mộc), mà còn cần hòa hợp mới thành vật hữu dụng (cưa, búa đẻo gọt cây thành vật để dùng như tủ, bàn, ghế).
Những loại Mộc còn lại như Tùng Bá Mộc (cây tùng già), Dương Liễu Mộc (cây dương liễu), Tang Đố Mộc (cây dâu tằm), Thạch Lựu Mộc (cây mọc trên đá) và Đại Lâm Mộc (cây trong rừng già) đều sợ Kim, nếu phối hợp sẽ tử biệt hay nghèo khổ suốt đời (Hưu Tù Tử). Những loại cây trong rừng (Đại Lâm, Tùng Bá), những cây sống chùm gửi (Thạch Lựu), cây còi (Dương Liễu) rất hay bị đốn chặt, khai quang.

- Hành Thuỷ:

Đại Hải Thủy, Thiên Hà Thủy lưu

Nhị ban bất dữ Thổ vi cửu

Ngoại giả đô lai toàn kỵ Thổ

Phùng chi y lộc tất nan cầu.
Giải thích : Đại Hải Thủy (nước biển), Thiên Hà Thủy (nước trên trời) không sợ gặp Thổ dù Thổ khắc Thủy (Thủy hao Thổ lợi) vì đất không ở biển lớn hay trên trời, cả hai phối hợp cùng Thổ càng mau thành công, nếu thành vợ chồng sẽ dễ hiển đạt đường công danh phú quý.
Còn Trường Lưu Thủy (sông dài), Giang Hà Thủy (sông cái), Tuyền Trung Thủy (nước suối) và Đại Khê Thủy (nước khe) đều kỵ Thổ, nước chỉ làm lợi cho đất, số sẽ vất vả, nghèo khó, vì nước mất mát cho đất thêm màu mở.

- Hành Hoả:

Phúc Đăng, Lư Trung dữ Sơn Đầu

Tam Hỏa nguyên lai phách Thủy lưu

Thiên Thượng, Tích , Sơn hạ Hỏa

Thủy trung nhất ngô cân vương hâu
Giải thích : Ba loại Phúc Đăng Hỏa (lửa đèn dầu), Lư Trung Hỏa (lửa bếp lò) và Sơn Đầu Hỏa (lửa trên núi) gặp hành Thủy sẽ khắc kỵ. Khi gặp nước ba thứ lửa trên sẽ bị dập tắt, đúng nghĩa Thủy khắc Hỏa, thuộc diện khắc nhập mất phần phúc.
Còn Thiên Thượng Hỏa (lửa trên trời) và Tích Lịch Hỏa (lửa sấm sét) lại cần phối hợp với hành Thủy, bởi có nước thì càng phát huy được tính chất, khí âm (thủy) gặp khí dương (hỏa) sẽ gây ra sấm sét.

- Hành Thổ:

Lộ Bàng, Đại Trạch, Sa Trung Thổ

Đắc Mộc như đạt thanh vân lộ

Ngoại hữu tam ban phách Mộc gia

Phùng chi tất mệnh tu nhập mộ.
Giải thích : Lộ Bàng Thổ (đất đường lộ), Đại Trạch Thổ (đất đầm lầy) và Sa Trung Thổ (đất bãi cát) không sợ Mộc, vì cây không sống giữa đường cái quan hay trên bãi cát, đầm lầy. Cả ba hành Thổ này nếu gặp Mộc không khắc dù Mộc khắc Thổ, Thổ hao Mộc lợi, trái lại còn có đường công danh, tài lộc thăng tiến không ngừng.
Thành Đầu Thổ (đất bờ thành), Bích Thượng Thổ (đất trên tường) và Ốc Thượng Thổ (đất nóc nhà) đều sợ Mộc, nhất là Tang Đố Mộc, Thạch Lựu Mộc, như thân tự chôn xuống mộ. 3 hành Thổ này tuy không sợ Bình Địa Mộc, Đại Lâm Mộc, Tùng Bá Mộc nhưng không bền vững vì hình kỵ

Xuy Tuyết, viết từ Bắc Ninh.

Email: tuvixuytuyet@gmail.com

Nội Dung Thuộc Về: Tử Vi Xuy Tuyết
Facebook: Xem Tử Vi
Điện Thoại: 0988605815
Email: tuvixuytuyet@gmail.com
Có Thể Bạn Quan Tâm:
Nhận luận giải tử vi chuyên sâu, tư vấn phong thủy, vui lòng liên hệ: Email: tuvixuytuyet@gmail.com Facebook: Xem Tử Vi